Latest News From Our Blog

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 12.04.2015

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 12.04.2015

in NAM GIỚI on 15 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 12.04.2015.

1. Đề tài: VÁC THẬP TỰ GIÁ.

2. Kinh Thánh:Mat 10:38; 16:24; Lu 9:23; 14:27; Êph 2:16; Hêb

2:2; 1Côr 1:18.

3. Câu gốc: “Nếu ai muốn theo Ta, phải liều mình, vác thập tự giá

mình mà theo Ta” (Mác 8:34b).

4. Đố Kinh Thánh:2Sử Ký 21-24.

5. Thể loại:Tìm hiểu.

* CHỈ DẪN: Tìm hiểu.

Mời 2 người trong BHD chịu trách nhiệm trình bày đề tài: “Thế

nào là vác thập tự giá?” và mời một ngườilên đúc kết, cầu nguyện.

Sau khi NHD trình bày phần giới thiệu thì lần  lượt mời người có

trách nhiệm lên trình bày.

– Người thứ I: Trình bày quan điểm không đặt  nền tảng trên

Kinh Thánh.

– Người thứ II: Trình bày quan điểm đặt nền tảng trên Kinh

Thánh.

– Người thứ III: Lên đúc kết và cầu nguyện kết thúc.

* TÀI LIỆU THAM KHẢO.

VÁC THẬP TỰ GIÁ.

90

“Nếu ai muốn theo Ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà

theo Ta”(Mác 8:34).

Theo Kinh Thánh, vác thập tự giá là việc quan trọng hàng đầu

cho những Cơ Đốc nhân muốn sống đời tận hiến cho Chúa. Nhiều

lần ta nghe các chứng đạo viên giới thiệu Chúa cho người ngoại đạo

bằng những lời nầy:  Ông bà hãy tin Chúa. Tin Chúa sẽ được

phước; tin Chúa sẽ được Chúa chăm sóc, lo liệu; tin Chúa sẽ có

cuộc sống hanh thông, dễ dàng.

Trên một phương diện, lời chứng đó không sai; nhưng trên một

phương diện khác, ta quên đề cập đến giá phải trả của một người

theo Chúa, kết quả là trong Hội Thánh đầy dẫy những tín hữu theo

Chúa nửa vời, nguội lạnh, hâm hẩm và bội đạo. Họ dừng bước, lui

bước khi đối diện với khó khăn, trở ngại, thử thách vì không có đức

tin thật nơi Chúa.

Ngày xưa, lúc Chúa Giê-xu kêu gọi người theoNgài, nhiều lần

Chúa nhắc nhở họ về lẽ cần của việc vác thập tự giá. Trong Ma-thi-ơ 10:38, Chúa nhấn mạnh rằng nếu ai khôngvác thập tự giá

mình theo Chúa, thì không đáng làm môn đệ Ngài. Trong Lu-ca

9:23, Chúa chỉ rõ rằng ta phải vác thập tự giá theo Chúa mỗi ngày

và đoạn 14:27 cho thấy, ai không vác thập tựgiá mình theo Chúa,

cũng không được làm môn đồ Chúa. Ma-thi-ơ 16:24, Mác 8:34 và

Lu-ca 9:23 đều đòi hỏi việc từ bỏ chính mình  để vác thập tự giá

theo Chúa. Lẽ thật nhấn mạnh trong các câu Thánh Kinh này là

“Vác thập tự giá để theo Chúa”.

Tuy nhiên, thế nào là vác thập tự giá?Chúa Giêxu muốn nói gì

khi Ngài phán:  “Nếu ai muốn theo Ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi

ngày vác thập tự giá mình mà theo Ta”(Lu 9:23). Ở đây ta hiểu từ

“vác thập tự giá” theo nghĩa đen, nghĩa bóng hay nghĩa thuộc linh?

Lời Chúa phán “vác thập tự giá” là nói riêng cho các môn đồ Ngài,

hay nói chung cho tất cả người tin Chúa? Có nhiều quan điểm giải

thích cho việc vác thập tự giá theo Chúa.

91

I. QUAN ĐIỂM KHÔNG ĐẶT NỀN TẢNG TRÊN KINH THÁNH.

1. “Thập tự giá” được hiểu theo nghĩa đen.

Theo quan điểm nầy, thập tự giá mà người Cơ  Đốc vác là thập

tự giá bằng gỗ. Trong lịch sử Hội Thánh ta thấy có nhiều người ủng

hộ quan điểm nầy và luôn mang cây thập tự bằng gỗ to tướng kè

kè bên mình.

Tuy nhiên, xét theo văn mạch Thánh Kinh, quan điểm nầy không

đúng. Thập tự giá Chúa bảo ta vác ở đây được hiểu theo nghĩa bóng

chứ không phải nghĩa đen. Hầu hết các học giả Kinh Thánh cũng bác

bỏ quan điểm thập tự giá được hiểu theo nghĩa đen.

2. “Thập tự giá” chỉ về bệnh tật.

Theo quan điểm nầy, thập tự giá chỉ về nhữngtật bệnh đặc biệt

mà mỗi con cái Chúa phải chịu, để giúp người sống khiêm nhường

và thiêng liêng. Thomas A. Kempis tán thành quan điểm nầy, và

giảng giải thêm: “Thập tự giá không những chỉ về bệnh tật, mà

còn có hàm ý bất cứ hình thức nào của sự đau khổ”.

Quan điểm trên không phù hợp với Lời Thánh  Kinh dạy, bởi lẽ

cho rằng bất cứ người nào mắc bệnh đều là  môn đồ Chúa, nhưng

trên thực tế ta thấy có nhiều tín hữu khỏe mạnh, trong khi đó cũng

có nhiều người không tin Chúa bị bệnh tật.

3. “Thập tự giá” chỉ về sự cứu rỗi.

Quan điểm nầy cho rằng người vác thập tự giá là người kinh

nghiệm được sự cứu rỗi. Những người chủ trương quan điểm nầy

cho rằng việc môn đồ hóa và được cứu rỗi có giá trị như nhau.

Nhóm khác nữa thì quan niệm rằng môn đồ hóalà điều kiện của sự

cứu rỗi. Họ kêu gọi mọi người hãy vác thập tự giá để làm nên sự

cứu rỗi cho mình.

Quan điểm nầy lầm lẫn vì dạy rằng con người nhờ việc làm mà

được cứu rỗi.

92

4. “Thập tự giá” chỉ về tội lỗi.

Theo quan điểm nầy, thập tự giá chỉ về nhữngtội lỗi mà người

tin Chúa không thể từ bỏ. Martin Luther ủng hộ quan điểm này,

John R. Rice cũng tán thành qua việc dạy về lẽ cần để đóng đinh

bản tánh tội lỗi.

Tuy nhiên, theo Kinh Thánh, thói quen phạm tộikhông phải là

điều Chúa muốn con cái Ngài phải mang. Trong  Chúa Cứu Thế, ta

được ban sự đắc thắng tội lỗi. Lời Chúa dạy “phải nên thánh vì Ta

là thánh” (1Phi 1:16).

5. “Thập tự giá” chỉ về người phối ngẫu củamình.

Đây là quan điểm ta thường được nghe thấy trong các câu

chuyện hằng ngày. Nhiều người chồng, người vợ không vừa ý nhau,

nên kể người phối ngẫu là cây thập tự nặng nề mình phải mang.

Người ta kể lại có ông chồng kia đã giới thiệu vợ mình cho bạn hữu

bằng những lời này: “Tôi xin giới thiệu vớianh chị, đây là… thập tự

giá của tôi!”

II. QUAN ĐIỂM ĐẶT NỀN TẢNG TRÊN THÁNH KINH.

Trước khi tìm hiểu việc vác thập tự giá theoquan điểm Lời Chúa

dạy, ta cũng nên để ý rằng trong Tân Ước, chữ “thập tự giá”

thường được hiểu theo ba nghĩa: Nghĩa đen, nghĩathuộc linh và

nghĩa bóng.

Theo nghĩa đen,trong Tân Ước chỉ có ba thập tự giá hiểu theo

nghĩa này: Đó là cây thập tự của Chúa Giê-xu và hai cây thập tự

của hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Chúa (Mat 27:38-40).

Theo nghĩa thuộc linh,tất cả người tin Chúa đều đã được đồng

chịu đóng đinh với Chúa Giê-xu trên thập tự giá (Rô 6:6, Gal 2:20).

Nói cách khác, mỗi người đặt đức tin nơi công lao cứu chuộc của

Chúa Giê-xu trên thập tự giá, đều được đồng chết với Ngài. Tuy

nhiên, đây là nghĩa thuộc linh hay là nghĩa ẩn dụ, chớ không phải

93

nghĩa đen, vì ngoài Chúa Giê-xu không tín hữu nào đã bị đóng đinh

trên thập tự giá.

Theo nghĩa bóng,thập tự được hiểu là:

1. Sự gian khổ và phủ nhận chính mình (Mat 16:24).

2. Sự khổ đau của Chúa Giê-xu (Êph 2:16, Hêb2:2).

3. Giáo lý của Phúc Âm (1Côr 1:18).

4. Phúc Âm, vì kẻ thù của Phúc Âm là kẻ thù của thập tự giá

(Phil 3:18).

5. Thập tự giá của Chúa Giê-xu là hình ảnh về sự cứu rỗi (1Côr

1:17).

Ý nghĩa thập tự giá theo quan điểm Thánh Kinhlà như vậy.

Người vác thập tự giá là người sẵn sàng sống cho Chúa trong bất

kỳ hoàn cảnh nào, dù cho phải chịu sỉ nhục,  đau khổ và ngay cả

phải chết vì Chúa.

Mặt khác, vác thập tự giá cũng có nghĩa làlàm cho chết những

tham vọng, ý tưởng, mục tiêu đi ngược lại ýmuốn Chúa. Phao-lô là

người vác thập tự giá nên đã tuyên bố: “Tôi chết hằng ngày”(1Côr

15:31), tức là làm chết đi những điều không theo ý muốn Chúa.

Chúa Giê-xu ứng dụng lẽ thật vác thập tự giá qua các ví dụ và

ẩn dụ nầy:  “Có vua nào đi đánh trận cùng vua khác, mà trước

không ngồi bàn luận xem mình đem đi một muôn (10.000) lính có

thể địch nổi vua kia đem hai muôn (20.000)… sao?Bằng chẳng

nổi, khi vua kia còn ở xa, sai sứ đi xin hòa”(Lu 14:31-32). Chúa

không muốn làm nản lòng những người theo Ngài, nhưng bảo họ

phải tính toán trước. Chẳng thà đừng theo Chúa còn hơn đi theo rồi

thất bại. Đây là hình ảnh của những tín hữutin Chúa nửa vời, hâm

hẩm, nguội lạnh và coi thường sự lựa chọn của mình.

Rồi Chúa Giê-xu kết luận:  “Nếu ai trong các ngươi không bỏ

mọi sự mình có, thì không được làm môn đồ Ta”(Lu 14:33).

94

Không có gì vô dụng cho bằng người theo Chúamà còn chạy

theo thế gian, yêu mến thế gian và các vật ở thế gian. Người ấy

cũng như muối mất vị mặn, thiếu bản chất của người thuộc về

Chúa, thiếu đời sống tận hiến và chẳng còncó thể phục vụ Ngài.

Quý vị có đang vác thập tự giá theo Chúa không?

 

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 05.04.2015

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 05.04.2015

in NAM GIỚI on 15 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 05.04.2015.

1. Đề tài: TINH THẦN ĐÓN CHÚA PHỤC SINH.

2. Kinh Thánh: Ma-thi-ơ 28:8-10.

3. Câu gốc: “Đức Chúa Giê-xu phán rằng: Ta là sự sống lại và sự

sống; người nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu  đã chết rồi”

(Giăng 11:25).

4. Đố Kinh Thánh: 2Sử Ký 25-28.

5. Thể loại: Chia sẻ.

* CHỈ DẪN: Xem chỉ dẫn Chúa nhật 04.01.2015.

* TÀI LIỆU THAM KHẢO.

TINH THẦN ĐÓN CHÚA PHỤC SINH

Khác với các tôn giáo khác, Cơ Đốc giáo chúng ta rất hãnh diện

về vị giáo chủ của mình, vì Chúa Giê-xu đã phục sinh. Các giáo chủ

khác đều đã chết và cứ chết luôn không baogiờ sống lại; còn sự

86

phục sinh của Chúa chúng ta là một sự kiện  lịch sử không ai phủ

nhận được. Nếu ai có cách nào chứng minh Chúa Giê-xu không bao

giờ sống lại thì Cơ Đốc giáo sẽ sụp đổ ngaytức khắc.

Ngay từ lúc tin Chúa phục sinh được loan báo  ra, những người

chống đối Chúa đã vội tìm cách bác bỏ và phủ nhận. Tiếc thay, nỗ

lực của họ như một bong bóng bị nổ tung vì Chúa sống lại hiện ra

sờ sờ làm sao chối bỏ được. Chính sự hiện diện của Chúa là bằng

chứng hùng hồn, là năng lực sống động của Hội Thánh đầu tiên.

Sách Công Vụ kể lại thể nào Hội Thánh đầutiên được khởi đầu

và phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự rao giảngcủa những người

chứng kiến Chúa đã phục sinh. Kể từ đó đếnnay, đã gần 2.000

năm qua, Cơ Đốc giáo vẫn cứ tiếp tục phát triển và bành trướng.

Trong không khí rạo rực của mùa Lễ Phục Sinhnăm nay, chúng

ta nên có tinh thần thể nào?

Xin chúng ta cùng tra xem Lời Chúa mà học theo gương các nữ

môn đồ khi xưa. Theo Ma-thi-ơ 28:8-10, khi quý bà biết Chúa đã

sống lại, họ liền có những thái độ và hành động như sau:

I. VUI MỪNG.

“Hai người đàn bà đó bèn vội vàng ra khỏi mộ… cả mừng”

(c.8). Tất cả những nỗi âu lo, sợ sệt, thấtvọng, chán chường khi

chứng kiến cảnh Chúa bị xử, bị đóng đinh, rồi tắt thở, được khâm

liệm và được đem chôn, đã hoàn toàn tan biến như ánh bình minh

vừa ló dạng xua đi màn đêm tăm tối u sầu. Họ sung sướng với

niềm vui Chúa phục sinh tràn ngập tâm hồn.

Trước kia họ đã vui biết bao khi chứng kiến cảnh Chúa chữa

lành những người câm, điếc, đui, què, phung,  bại. Trước kia họ đã

cũng từng vui biết bao khi nhìn thấy Chúa hóabánh cho hàng ngàn

người ăn, phán một tiếng thì ma quỉ chạy xa, hoặc nhìn thấy những

người đã chết được Chúa ban cho sống lại. Nhưng tất cả những

niềm vui đó không thể nào sánh bằng niềm vui được biết Chúa

87

phục sinh, vì Chúa sống lại từ cõi chết đã  thay đổi tất cả. Con

người từ nay đã có hy vọng và không còn phải chịu bó tay dưới

quyền lực của tử thần. Trong Chúa phục sinh,quyền năng của tử

thần đã bị vô hiệu hóa.

Trong mùa Phục Sinh năm nay, nguyện xin Chúa cho chúng ta

kinh nghiệm được niềm vui thiên thượng nầy cách mới mẻ. Chúa

chúng ta đã sống lại và đang sống (Giăng 11:25), cho nên chúng

ta không có lý do gì cứ sống trong buồn lo, sầu thảm mãi. Cuộc

sống đời nầy sẽ có lúc chấm dứt, nhưng chúng ta vẫn cứ sống với

Chúa. Dù đời có khắc nghiệt đến mấy, cuối  cùng chúng ta sẽ đắc

thắng vì chúng ta sẽ sống mãi với Chúa phụcsinh. Vậy nên chúng

ta “hãy vui mừng mãi mãi”(1Tês 5:16, Phil 4:4).

II. ĐẾN THỜ LẠY CHÚA.

“Hai người cùng đến gần… và thờ lạy Ngài”(c.9).

Nghe tin Chúa phục sinh, trong lòng rộn lên niềm vui cũng chưa

đủ. Niềm vui đó cũng chưa trọn vẹn cho đến khi nào được đến thờ

lạy Ngài. Khoảng trống trong tâm hồn chúng ta sẽ không bao giờ

khỏa lấp cho đến khi được đến gần Chúa và thờ phượng Ngài.

Vinh dự và phước hạnh thay cho những người có lòng yêu mến

Chúa! Ngài không kể họ là nam hay nữ, hễ họ có lòng tìm kiếm

Ngài thì Ngài cho họ được gặp. Quý bà nầy là những người đã gặp

Chúa đầu tiên sau khi Ngài sống lại.

Chúa thấy rõ tấm lòng chờ mong cho mau đến sáng để được đi

thăm mộ Chúa của họ. Họ đâu có ngờ rằng đi thăm mộ Chúa lại

được gặp Chúa sống lại và hiện ra cho mình xem thấy. Họ đâu có

ngờ rằng đi thăm mộ Chúa lại biến thành đi  thờ phượng Chúa, vì

Chúa đâu còn nằm trong phần mộ nữa.

Trong mùa phục sinh năm nay, nguyện Chúa cho chúng ta kinh

nghiệm gặp gỡ Chúa phục sinh một cách mới mẻ khi chúng ta

88

cùng đến tôn thờ Ngài, vì tâm linh chúng ta  chỉ thoả mãn khi thờ

phượng Chúa mà thôi.

III. BÁO TIN VUI CHO NGƯỜI KHÁC.

“Đừng sợ chi cả; hãy đi bảo…” (c.10), “hai người… chạy báo tin

cho các môn đồ” (c.8).

Niềm vui phục sinh cũng vẫn chưa trọn vẹn chođến khi được

dịp chia sẻ niềm vui đó cho người khác. Cơ Đốc nhân chân chính

sẽ không bao giờ thấy thỏa lòng khi chỉ riêng mình có được niềm

vui và tâm linh mình được thỏa thích tôn thờ  Chúa. Cơ Đốc nhân

chân chính sẽ thỏa lòng khi được dịp chia sẻ niềm vui mình có cho

những người chưa biết Chúa. Vì không biết vàkhông tin Chúa đã

sống lại, nên nhiều người vẫn còn sống trong buồn lo, sợ sệt.

Chúa Giêxu muốn chúng ta thoát ra khỏi hoàn  cảnh buồn lo sợ

hãi đó khi chúng ta tin rằng Ngài đã đắc thắng sự chết, Ngài đã

sống lại, Ngài đang cầm quyền tể trị trên cả hoàn vũ, và Ngài sẽ

giúp đỡ chúng ta. Chúa sẽ bênh vực người thuộc về Ngài và xử lẽ

công bình cho họ. Nhiều người không biết điều đó nên chúng ta

phải đi báo tin vui Chúa phục sinh cho họ hay.Chính sự không biết

và thiếu đức tin đã giam cầm biết bao nhiêu  người trong ngục tù

của bất an, sợ sệt.

Dù có làm môn đồ Chúa đi nữa, nhưng không biết và không tin

vào sự kiện Chúa đã phục sinh thì chúng ta cũng có thể sống thiếu

bình an. Sự hiểu biết và tin tưởng nầy chỉ có được khi những người

đã có kinh nghiệm trong Chúa đi ra rao báo tinmừng. Những nữ

môn đồ ngày xưa đã “chạy”(vội vã) đi báo tin, còn chúng ta ngày

nay thì sao? Xin Chúa giúp cho chúng ta cũng có tinh thần sốt

sắng truyền báo tin vui Chúa đã phục sinh nhưcác nữ môn đồ nầy.

“Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người”(Mác 16:15).

Trong không khí rạo rực của mùa kỷ niệm Chúa phục sinh năm

nay, nguyện Chúa cho chúng ta noi gương các nữthánh đồ ngày

89

xưa kinh nghiệm được niềm vui khôn tả khi nghĩđến Chúa phục

sinh, đến thờ lạy Ngài và sốt sắng ra đi raobáo cho người khác

hay tin Ngài đã phục sinh. Thế giới nầy vẫn cứ ở dưới ách thống trị

của Satan và tội lỗi cho đến khi mọi người tin tưởng và kinh nghiệm

được quyền năng của Chúa phục sinh.

 

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 29.03.2015

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 29.03.2015

in NAM GIỚI on 15 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 29.03.2015.

1. Đề tài: SINH NHẬT – CẢM TẠ CHÚA.

2. Kinh Thánh: Thi Thiên 91.

3. Câu gốc:  “Tôi nói về Đức Giê-hô-va rằng: Ngài là nơi nương

náu tôi, và là đồn lũy tôi; cũng là Đức Chúa Trời tôi, tôi tin cậy

nơi Ngài” (Thi 91:2).

4. Đố Kinh Thánh: 2Sử Ký 17-20.

5. Thể loại: Sinh nhật – Sinh hoạt.

* CHỈ DẪN: Sinh nhật (Ca ngợi & Cảm tạ).

1. Thông báo danh sách những người có ngày sinh trong quý I

(tháng 1,2,3) trước một tuần lễ; bổ sung những tên còn thiếu.

2. Thư ký trao danh sách cho thủ quỹ mua quà.  Quà tặng sinh

nhật nên mua nhiều hơn số cần, phòng khi có  khách, thân hữu…

đến dự và cũng có ngày sinh trong quý đó.

3. Những người không nhớ ngày sinh, có thể chọn ngày cưới,

ngày tin nhận Chúa, ngày chịu báp tem… để làm sinh nhật.

4. Chuẩn bị một chiếc bánh sinh nhật (nếu cóthể), kích thước

chiếc bánh tùy theo số người tham dự.

84

5. Mời những người có tên trong danh sách “sinh nhật” lên phía

trên, số người còn lại hát chúc mừng. Tất  cả cùng cầm dao cắt

bánh. Mời người cầu nguyện đặc biệt cho họ.

6. Ban hướng dẫn tặng quà cho những người cósinh nhật.

7. Mời một số người làm chứng, ca ngợi Chúa, chia sẻ những

kinh nghiệm thuộc linh… Khi làm chứng nên trình bày thành thật,

đừng thổi phồng.

8. Chơi trò chơi, đố vui và ăn bánh sinh nhật…

* TRÒ CHƠI DÀNH CHO NGƯỜI CÓ SINH NHẬT.

THẮP NẾN SINH NHẬT.

– Chuẩn bị: Dùng giấy bìa cứng làm một số cây nến, ghi lời yêu

cầu vui, ngắn gọn lên giấy, cuộn lại nhét vào cây nến, dùng băng

keo dán cây nến lên bảng (số nến tương đươngvới số người có

ngày sinh trong quí).

Nếu dùng nến thật thì cũng gắn lời yêu cầuvào như nến bằng

giấy rồi bạn đốt nến và sắp lên bàn sao cho đẹp mắt.

Ví dụ về lời yêu cầu: “Chúc bạn sinh nhật vui vẻ! Mời bạn uống

một lượt 5 ly nước”,  hoặc  “Mừng sinh nhật bạn! Bạn có thể mời

người hát tặng bạn một bài”…

– Cách chơi: NHD sẽ mời lần lượt từng người có ngày sinh trong

quí lên và chọn cho mình một cây nến. Tìm xemcây nến xinh xắn

có chứa điều gì bí ẩn và khi tìm ra được hãyđọc lớn điều bí ẩn đó

lên và thực hiện.

* TRÒ CHƠI TẬP THỂ.

THEO CHÚA.

– Cách chơi: NHD cho các bạn tập trung thành vòng tròn và

đếm số từ 1 cho đến hết (mỗi người nhớ số mình). Sau đó NHD đi

xung quanh bên trong vòng tròn và hô lên: “Theo Chúa, theo

Chúa!” các bạn đáp lại: “Ai theo, ai theo?”, NHD hô bất kỳ một số

85

nào đó, ví dụ: “số 5 theo”; thì người mang số5 phải lập tức chạy

nhanh về phía NHD, và hai người đứng hai bên phải nhanh chóng

nắm tay người đó kéo lại và nói: “bắt bớ”.Nếu “người số 5” bị bắt

thì coi như bị loại; còn nếu “người số 5” chạy lên được NHD thì hai

bạn hai bên bị loại.

ĐOÁN NHÂN VẬT KINH THÁNH.

– Cách chơi: Chia thành 4 hoặc 5 nhóm. Mỗi nhóm cử một người

đại diện lên phía trước. NHD đưa ra 4 hoặc 5 nhân vật Kinh Thánh,

đại diện của từng nhóm nhận một nhân vật. Sau đó, các người này

lần lượt thông đạt lại cho nhóm của mình nhân vật Kinh Thánh đó

chỉ bằng điệu bộ (không được nói). Nếu trongvòng vài phút, nhóm

của mình không đoán ra được, thì các nhóm khác được quyền trả

lời. Nhóm nào đoán ra được, sẽ được cộng điểm.

 

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 22.03.2015

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 22.03.2015

in NAM GIỚI on 15 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 22.03.2015.

1. Đề tài: PHIÊN TÒA CUỐI CÙNG CỦA THẾ GIỚI.

2. Kinh Thánh:Khải Huyền 20:7-15.

3. Câu gốc: “Người nào không được biên vào sách sự sống đều bị

ném xuống hồ lửa”(Khải 20:15).

4. Đố Kinh Thánh: 2Sử Ký 13-16.

5. Thể loại: Học Kinh Thánh nhóm.

77

* CHỈ DẪN: Xem chỉ dẫn Chúa nhật 11.01.2015.

Dựa vào Khải Huyền 20:7-15 soạn một số câu  hỏi cho giờ học

Kinh Thánh.

(1.1) Xin cho biết biến cố gì xảy ra sau 1.000 năm bình an?

(1.2) Tại sao Đức Chúa Trời cho phép biến cố nầy xảy ra?

(1.3)  Qua biến cố nầy bạn học biết quyền tể trị của Đức Chúa

Trời như thế nào?

(2.1) Sự phán xét cuối cùng xảy ra như thế nào?

(2.2) Tại sao có sách sự sống và các loại sách khác? Kết cuộc

của người có tên trong hai loại sách đó như thế nào?

(2.3)  Học biết phiên toà cuối cùng nầy, bạn thấymình phải

chuẩn bị điều gì trong hiện tại?

* TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Trong nhân loại có rất nhiều phiên tòa lịch  sử xét xử những

phạm nhân “nổi tiếng” như tòa án xử các tội phạm chiến tranh thời

đệ nhị thế chiến. Trong những phiên toà của  trần gian, có những

bản án được tuyên bố khiến người ta vô cùng kinh khiếp. Nhưng

dầu kinh khiếp, công lý trên đời chỉ có giới hạn, và không làm gì

hơn nữa sau sự chết của phạm nhân. Tuy nhiêncó những bản án

khiến người ta vô cùng ngạc nhiên vì thấy người ác có thể lọt lưới

công lý một cách dễ dàng!

Nhưng đối với luật pháp của Đức Chúa Trời, Kinh Thánh cho biết

có một phiên tòa cuối cùng mà cả nhân loại không một ai thoát

khỏi, sẽ phải ứng hầu trước mặt Ngài. Phiên tòa nầy sẽ được xảy ra

khi nào? Như thế nào? Và kết quả rao sao?

I. DẪN GIẢI.

A. SỰ CUỐI CÙNG CỦA SA-TAN.

Theo Khải 20:7-10, chúng ta ghi nhận những diễn biến sau đây:

78

1. Thời đại Thiên hi niên được kết thúc vớibiến cố của sự phóng

thích sa-tan đã bị quản thúc ngàn năm trong vực sâu. Sự phóng

thích nầy có thể nhằm mục đích thử nghiệm loài người lần chót

xem có đủ điều kiện vào Nước vĩnh viễn của  Đức Chúa Trời hay

không. Đồng thời để cho sa-tan làm trọn việcác của nó tới đúng

mức bị hủy diệt.

2. Sau khi được thả ra, hoạt động của sa-tan là tạo chiến tranh

để chống nghịch Đức Chúa Trời. Dấy nghịch Chúa và bách hại con

cái Ngài là việc sa-tan chẳng bao giờ dừng!  Bằng cách khéo léo

quyến dụ, dỗ dành loài người trên đất, có  thể Satan cổ võ một

“phong trào cách mạng dân chủ” chống lại chính thể thần quyền

của Đấng Christ. Nó qui tụ được một liên minh quân sự rất hùng

hậu từ các dân trên thế giới. Gót và Ma-gót, tên nầy được thấy

trong Sáng Thế Ký 10:2, là tên một người thuộc dòng dõi của Gia-phết. Vì trong Ê-xê-chi-ên 38:22 tên Gót và Ma-gót cũng có đề cập

đến trong lời tiên tri về biến cố nầy. Theo  các nhà giải kinh, hai

tên nầy có thể tiêu biểu cho các dân từ bốn phương của thế giới.

Dưới quyền chỉ huy của sa-tan, chúng đổ quân  bao vây thành

các thánh đồ và thành yêu dấu, tức Giê-ru-sa-lem, thủ đô của nước

Thiên hi niên. Sự vây thành nầy có nghĩa sa-tan muốn chiếm ngôi

nước của Đức Chúa Trời.

3. Quân lực của sa-tan bị thảm hại. Đức ChúaTrời giáng lửa từ

trời tiêu diệt chúng.

4. Sa-tan bị quăng vào hồ lửa đời đời. Đó là số phận cuối cùng

của nó, chung với tiên tri giả, và con thú,  tức là An-ti-christ, là

những người kết hợp với nó để chống nghịch Đức Chúa Trời.

Trong cuộc chiến cuối cùng của thế gian, câuhỏi có thể nêu lên

là: Trong thời đại Thiên hi niên, dân cư sống trong nước Chúa đều là

những người thuần phục Ngài. Nhưng tại sao sa-tan có thể lôi cuốn

được số đông “như cát bãi biển” theo nó vàocuối thời đại nầy?

79

Câu hỏi trên có thể được cắt nghĩa trong haiđiểm sau đây:

(1) Trong nước ngàn năm, dân cư là những người tin kính Chúa.

Nhưng những thế hệ sanh ra sau đó không phải  hoàn toàn là

những người thực sự tin Chúa.

(2) Môi trường tốt bên ngoài không thể cải  thiện tấm lòng bên

trong của con người. Dưới sự trị vì của Chúa,trong sự chánh trực

công bình, luân lý đạo đức toàn vẹn, hoà bình, hạnh phúc khắp nơi

nơi, là môi trường rất thuận lợi cho sự hướng thiện. Nhưng tâm tánh

con người vốn sa ngã không thể nhờ môi trường bên ngoài mà

được biến đổi nếu không nhờ quyền năng Thánh Linh đổi mới bên

trong. Cho nên trong lúc vắng mặt sa-tan, và với sự cai trị bằng

“cây gậy sắt”của Chúa, họ buộc phải thuần phục Ngài (Ê-sai

11:4). Vì vậy khi sa-tan được thả ra, thì rất dễ dàng mà theo sự dỗ

dành của nó.

Tóm lại, những sự kiện xảy ra dẫn đến sự cuối cùng của sa-tan,

chúng ta học biết những điều sau đây:

– Sự phóng thích của sa-tan vào cuối thời Thiên hi niên tỏ rằng

Đức Chúa Trời không ép buộc người ta thờ phượng nếu họ không

thật lòng.

– Đức Chúa Trời đang cầm quyền tể trị: Với sự dấy nghịch của

sa-tan, Ngài trừ diệt nó theo đúng thời điểmcủa Ngài.

B. SỰ PHÁN XÉT CUỐI CÙNG.

Trong phiên tòa cuối cùng của nhân loại, chúng ta ghi nhận

những điểm quan trọng sau đây:

1. Thời gian.

Vào cuối thời Thiên hi niên, sau cuộc chiến của sa-tan, và sa-tan

bị quăng vào hồ lửa đời đời (Khải 20:7-10).

2. Địa điểm.

80

Toà lớn và trắng. Toà án được diễn tả bằng hai hình dung từ

“lớn”và  “trắng”. Theo các nhà giải kinh, hai chữ nầy phản chiếu

vẻ oai nghiêm công chính và thánh khiết của Đấng phán xét. Trước

toà án trắng tinh anh, tội nhân tự thấy rõ  tội lỗi xấu xa của mình,

không cần phải ai nói cho biết.

3. Đấng phán xét.

“Đấng đương ngồi ở trên”chính là Chúa Giê-xu Christ, Đấng đã

được Cha ban quyền phán xét thế gian (Khải 20:11; Giăng 5:22).

Trên ngôi thẩm phán, Ngài oai nghiêm biết bao.  “Trước mặt Ngài

trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa”.

4. Tiêu chuẩn đoán xét.

Trong Khải Huyền 20:12-13 nói đến Sách của sự sống và những

sách khác. Hai thứ sách nầy có nghĩa gì?

Sách của sự sống gọi là sách của Chiên Con, là sách của những

người thuộc con cái Đức Chúa Trời, được cứuchuộc bởi huyết Chiên

Con, được ghi tên từ trước buổi sáng thế do  sự lựa chọn bởi tình

yêu thương của Ngài. Quyển sách sự sống được mở ra trong phiên

toà cuối cùng. Những người ác chịu xét đoánkhông ai có tên trong

sách nầy vì Chúa biết rõ người thuộc về Ngài (Giăng 10:14).

Sách sự sống chỉ có một mà thôi, còn nhữngsách là chỉ về sự

ghi chép các việc làm của người ác. Vì sự phán xét của Chúa sẽ

được căn cứ tùy theo công việc làm của mỗingười lúc còn trong

xác thịt.

Sự mở ra của sách sự sống và các sách ghi công việc làm của

mỗi người cho thấy tánh chất nghiêm trọng của phiên tòa cuối

cùng, một sự luyện lọc giữa người ác và người công bình. Có thể

người ta trốn thoát khỏi lưới công lý của trần gian. Nhưng trong

ngày phán xét chung kết nầy không một ai cóthể lọt khỏi mạng

lưới công lý của Đức Chúa Trời.

5. Người chịu xét xử.

81

Người chịu xét xử gồm tất cả loài người từthời A-đam, là người

không được cứu. Theo lịnh của Chúa, biển sẽ  trả những người chết

mình chứa, âm phủ trả những người chết mình  có và tất cả được

sống lại rồi ứng hầu trước mặt Chúa. “Cả lớn và nhỏ” chỉ về người

trẻ tuổi lẫn người lớn tuổi, hoặc người sang trọng hay người nghèo

hèn, người tri thức hay người dốt nát đều được xét xử trên cùng

một tiêu chuẩn như nhau vì Đức Chúa Trời chẳng vị nể ai (Rô 2:11).

6. Kết cuộc của sự phán xét.

Sự phán xét cuối cùng có tánh cách chung kết, nghĩa là không

có sự xét xử thứ hai và lời thẩm phán trong ngày ấy sẽ không bao

giờ thay đổi. Vì không có cơ hội thứ hai trong cõi đời đời, nên mục

đích của sự phán xét không phải để quyết định số phận của tội

nhân bởi số phận họ đã được định rồi khi qua khỏi đời nầy (Giăng

3:36). Đó là một sự chính thức công bố của Quan tòa công bình về

nơi ở vĩnh viễn của người ác là hồ lửa đờiđời, tức là sự chết thứ hai

(Khải 20:15).

C. SỰ CHUNG KẾT CỦA THẾ GIỚI LOÀI NGƯỜI.

Ngày phán xét cuối cùng cũng là ngày đánh dấu chung kết của

nhân loại. Có sự chia cách vĩnh viễn giữa người công bình với người

ác. Họ vào hai nơi ở đời đời khác nhau. Trời mới đất mới, nơi vĩnh

sanh phước hạnh dành cho người công bình, cònhồ lửa, nơi vĩnh

hình dành cho người ác.

Trong ngày chung kết nầy, sự công nghĩa của Đức Chúa Trời

được chiếu rạng. Satan và kẻ ác phải đền trả cách xứng đáng về

việc ác của mình, còn người công bình sẽ được ban thưởng. Và

những thắc mắc của công bình trên cõi đời nầy: Tại sao người ác

hưng thạnh? Tại sao người nghĩa bị nạn, bị người ác gây họa, sẽ

được giải đáp cách thỏa mãn trong ngày chungkết ấy.

Tóm lược.

82

1. Ngày phán xét cuối cùng xảy ra sau thời đại Thiên hi niên, và

sau khi sa-tan bị bỏ vào hồ lửa.

2. Tòa lớn và trắng là nơi phán xét, và Đấng phán xét là Đức

Chúa Giê-xu.

3. Tiêu chuẩn của sự đoán xét căn cứ vào công việc của mỗi

người, tức phẩm hạnh của mỗi người, được ghi chép trong những

sách của Chúa.

4. Sự phán xét nầy dành cho người chẳng tin,gồm cả nhân loại

kể từ đời A-đam.

5. Kết cuộc của sự phán xét là tất cả người không có tên trong

sách sự sống đều đi vào hồ lửa đời đời.

II. CÂU HỎI SUY GẪM VÀ ỨNG DỤNG.

1. Xin đọc Khải Huyền 20:7-10 ghi nhận những sự kiện sau đây:

a. Biến cố nào xảy ra trong 1.000 năm bình an  và do ai chủ

động?

b. Biến cố nầy được chấm dứt như thế nào?

2. a. Tại sao Đức Chúa Trời phóng thích sa-tansau thời đại Thiên hi

niên?

b. Trong biến cố phản nghịch của sa-tan và các dân trên đất,

cho chúng ta học biết gì về quyền tể trị củaĐức Chúa Trời?

3. Xin đọc Khải Huyền 20:11-15 và tìm hiểu:

a. Thời điểm của sự phán xét (20:1-11).

b. Địa điểm của sự phán xét.

c. Đấng phán xét (Giăng 5:22).

d. Sách của sự sống và những sách có nghĩa  gì? Tại sao sách

nầy được dùng trong sự phán xét?

e. Những người chịu phán xét là ai?

g. Mục đích của sự phán xét là gì và kết quả cuối cùng như thế nào?

83

4. Tại sao phiên tòa cuối cùng nầy rất là nghiêm trọng?

5. Khải 20:11,14-15; 21:1; 2Phi 3:13. Trong ngày phán xét cuối cùng

cho thấy điểm chung kết của thế giới loài người là gì? Có sự phân

chia thế nào giữa người ác và người công bình sau khi bức màn

lịch sử của thế giới loài người kết thúc? Điều ghi nhận trên cho

chúng ta học biết gì về sự công bình của Đức Chúa Trời.

6. Xin tóm lược những lẽ thật của Kinh Thánhvề sự cuối cùng của

sa-tan và ngày phán xét cuối cùng của thế giới?

 

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 15.03.2015

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 15.03.2015

in NAM GIỚI on 15 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 15.03.2015.

1. Đề tài: NƯỚC NGÀN NĂM BÌNH AN.

2. Kinh Thánh:Khải Huyền 19:11;20:6; Xa-cha-ri 8:4-5:20-22.

3. Câu gốc: “Từ nay nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và

Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời”(Khải 11:15b).

4. Đố Kinh Thánh: 2Sử Ký 9-12.

5. Thể loại: Thuyết trình.

* CHỈ DẪN: Xem chỉ dẫn Chúa nhật 25.01.2015.

* TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Hòa bình là mong ước sâu xa của loài người xưa nay. Trải qua

bao giai đoạn lịch sử, đã có nhiều chánh khách lỗi lạc từng ấp ủ

hoài bão thực hiện một thế giới đại đồng cho nhân loại. Nhưng

chiến tranh cứ mãi tiếp diễn không ngừng, và mỗi ngày càng thêm

khốc liệt hơn! Vậy hoà bình đến từ đâu?

Trở về với Kinh Thánh, một nước Thiên hi niên hòa bình đã được dự

ngôn gần hơn hai ngàn năm về trước. Như thế bao giờ nước hòa bình

lý tưởng nầy sẽ xuất hiện? Do ai thiết lập?Sự trì vì được đặt trên tiêu

chuẩn nào? Và thế giới sẽ ra sao trong thời đại hoàng kim ấy?

I. DẪN GIẢI.

A. DẪN CHỨNG VỀ NƯỚC THIÊN HI NIÊN.

69

Mặc dầu có một số người không tin có nước ngàn năm bình an,

như Calvin cho rằng đó là hạn chế quyền tể trị đời đời của Đấng

Christ. Tuy nhiên giáo lý Thiên hi niên là một thực sự vì những

chứng cớ sau đây:

1. Lời tiên tri trong Cựu Ước.

Ê-sai 2:2-4; 11:1-16; 60-65 đã mô tả cảnh trạng của nước hòa

bình trong sự trị vì vinh hiển của Đấng Mê-si khi Ngài hiện đến lần

thứ hai. Nhưng vì hiểu lầm lời tiên tri ấy, dân Do Thái đã đóng đinh

Đấng Mê-si khi Ngài hiện đến lần thứ nhất trong sự chết nhục nhã

trên thập tự giá!

2. Sự dạy dỗ của Tân Ước.

Trong Công Vụ 3:19-21 những chữ  “kỳ thơ thái đến từ Chúa”

hay  “kỳ muôn vật đổi mới”ám chỉ đến lời tiên tri về nước ngàn

năm của Đấng Christ. Trong Lu-ca 19:12-27, ẩn dụ về vị thái tử đi

phương xa nhận nước trở về tính sổ với đầy tớ mình, chỉ về Đấng

Christ được Đức Chúa Trời lập làm Vua trị vì nước Thiên hi niên và

đoán xét thế gian (Giăng 5:22). Khải Huyền 20:1-6 bày tỏ sự kiện

sa-tan bị giam giữ một ngàn năm bình an sau khiAn-ti-christ bị

diệt trừ. Trong khoảng thời gian ấy Đấng Christ trì vị các nước thế

gian với sự đồng trị của các thánh đồ Ngài.

3. Niềm tin của Hội Thánh đầu tiên.

Schaff, một sử gia Hội Thánh ghi rằng: Trước  giáo nghị hội

Nicée, trọng điểm của giáo lý lai thế được  gọi là thuyết Thiên hi

niên, chủ trương rằng Đấng Christ sẽ lấy đạiquyền, đại vinh hiện

ra cùng với các thánh đồ để trị vì trên đấttrước ngày phán xét

chung. Những giáo phụ danh tiếng như Papius, Justi Martyr, Irénée,

Tertullien đều công nhận lời nầy.

Sử gia Gibbon trong quyển:  “The decline and Fall of the Roman

Empire”, có ghi rằng: “Giáo lý về thời đại Thiên hi niên vốn xa xưa,

nhưng rất phổ thông. Bởi sự truyền lại liêntiếp qua các giáo phụ từ

70

Justin Martyr và Irénée, là hai nhân vật đã  từng gặp gỡ các giáo

phụ – môn đồ của các sứ đồ…”

B. NHỮNG BIẾN CỐ DẪN ĐẾN THỜI ĐẠI THIÊN HI NIÊN.

1. Thời điểm bắt đầu của nước Thiên hi niên.

Với những dẫn chứng trên cho thấy giáo lý về Thiên hi niên là

điều chắc chắn. Nhưng vấn đề là nước ấy sẽđược xuất hiện khi nào?

Có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm “Tiền Thiên hi niên”

cho rằng Đấng Christ sẽ đến trước thời đại ngàn năm bình an.

Quan điểm “Hậu Thiên hi niên” chủ trương ĐấngChrist sẽ đến sau

thời đại ngàn năm bình an vì nghĩ rằng thế giới nầy sẽ dần dần

được cải tiến về kinh tế, chính trị, và cải  thiện về đạo đức để đi

vào thời hoàng kim Thiên hi niên trước khi Đấng Christ tái lâm

đoán xét thế gian.

Phần lớn các nhà giải kinh Tin Lành đều tin thuyết Tiền Thiên hi

niên vì thuyết nầy thích hợp với sự dạy dỗ  của Kinh Thánh về

những điều sẽ xảy ra trước ngày hiện đến của Đấng Christ:

a. Sự hiện đến của An-ti-christ trước ngày Chúa tái lâm (2Tês

2:7-9): An-ti-christ sẽ xuất hiện trước thời đại Thiên hi niên, và

Chúa hiện đến hủy diệt nó, nghĩa là Ngài đến trước thời đại Thiên

hi niên (Khải 19:19-20; 20:1-5).

b. Sự băng hoại về đạo đức:  Tình trạng sa sút trong Hội

Thánh, sự bại hoại đạo đức trong xã hội loài người, sự bách hại

người tin, sự bất ổn trong các quốc gia. Đó là tình trạng “xáo trộn”,

được diễn tả trước ngày Chúa tái lâm chớ không phải tình trạng

thái bình trước ngày Chúa đến như thuyết HậuThiên hi niên chủ

trương (1Tim 4:1-3; Mat 24:9,29-31; Lu 21:25-27; 2Tês 1:7; Khải

7:14).

c. Hai kỳ sống lại: Một kỳ trước thời Thiên hi niên, và một sau

thời đại nầy. Tỏ rằng Chúa Giê-xu đến trước Thiên hi niên, và các

71

thánh đồ được sống lại và đồng trị với Ngài trong nước ngàn năm

bình an (Khải 20:2,5,12-13).

2. Chiến trận Ha-ma-ghê-đôn.

Ha-ma-ghê-đôn ám chỉ trận chiến lịch sử vĩ đại nhất, khủng

khiếp nhất sẽ xảy ra trước ngày Đấng Christ  tái lâm (Khải 16:12-16). Theo Vincent, Ha-ma-ghê-đôn có thể chỉ vềđồi Meggiddo, và

vùng phụ cận. Về địa lý, Meggiddo nằm trong đồng bằng

Esdraelon, ở về phía Tây sông Giô-đanh, thuộctrung tâm xứ

Palestine, cách Na-xa-rét khoảng 10 dặm về phía Nam; và cách

Điạ Trung Hải độ 15 dặm từ nội địa. Như thế  vùng chiến trận lớn

ấy sẽ chạy dài từ đồng bằng Esdraelon về phía Bắc, xuyên qua

Giê-ru-sa-lem, đến trũng Giô-sa-phát và giápvới Ê-đôm về phía

Nam. Địa điểm nầy đã từng xảy ra nhiều cuộc  chiến trong lịch sử

của Y-sơ-ra-ên, cũng là nơi được chọn cho những cuộc đấu sức trên

đất Palestine kể từ thời vua Assyria.

Theo sự bày tỏ trong Khải Huyền 16:12-16, Ha-ma-ghê-đôn là

cuộc chiến do sự dấy động của sa-tan và An-ti-christ, qui tụ tất cả

lực lượng của các cường quốc trên thế giớiđể chống nghịch Đức

Chúa Trời và bách hại tuyển dân Ngài. Đây  là cuộc chiến kết thúc

ngày Đức Giê-hô-va, tức thời kỳ đại nạn. Đây cũng là điểm hẹn

của các vua trên thế giới để chịu lấy sự đoán phạt khủng khiếp

nhất của Chúa về tội bội nghịch Ngài, bắt bớ các thánh đồ Ngài.

3. Sự đắc thắng của Đấng Christ (Khải 19:11-20:3).

Với sự chống nghịch của An-ti-christ, Đấng Christ hiện đến với đại

quyền, đại vinh để tiêu diệt chúng và dẹp sạch kẻ nghịch. Kết cuộc,

An-ti-christ, tiên tri giả bị bỏ vào hồ lửa và sa-tan bị nhốt một ngàn

năm trong vực thẳm để mở đầu cho thời đại Thiên hi niên.

C. SỰ TRỊ VÌ CỦA ĐẤNG CHRIST TRONG NƯỚC THIÊN HI NIÊN.

1. Chánh thể trị vì của Đấng Christ.

72

Theo nhà thần học Gacbelein, ngôi trị vì của Đấng Christ là Giê-ru-sa-lem mới trên trời, nơi Hội Thánh sẽ được đồng trị với Ngài.

Giê-ru-sa-lem xứ Do Thái sẽ trở thành thủ đô của nước ngàn năm

bình an (Xa 14:8,16-17).

Trong vương quốc Thiên hi niên, chánh thể “thần quyền” sẽ

được áp dụng. Tuy nhiên, theo Peters, trong chính thể thần quyền

có cả yếu tố quân chủ lẫn cộng hòa. Quân  chủ vì uy quyền tối cao

đều ở trong tay vua, và tất cả đều tùy thuộc vào đó, cộng hòa vì có

các cơ cấu duy trì quyền cá nhân từ thấp đến cao nhất. Sự kết hợp

hai yếu tố quân chủ và cộng hòa như thế sẽlà một chánh thể lý

tưởng đem phước hạnh cho con người. Chánh thểthần quyền đã

được Đức Chúa Trời chỉ định cho con người từ  lúc ban đầu, nhưng

con người đã bất phục Ngài (Sáng 3); và trong thời các quan xét

dân Ysơraên cũng đã thất bại với chánh thểnầy. Vì vậy trong nước

ngàn năm bình an, Đức Chúa Trời phục hồi chánh thể nầy qua

Đấng Christ, A-đam thứ hai. Ngàn năm dưới thểchế nầy cũng là

một thử nghiệm của Đức Chúa Trời xem con người có khả năng

chấp nhận một thể chế tương lai như thế trongNước vĩnh viễn của

Ngài không.

2. Đường lối trị vì.

Sự cai trị của Đấng Christ được đặt trên sự công bình, chánh trực,

là hai yếu tố phản chiếu bản tánh công nghĩa, thánh khiết của Ngài,

để trở thành nền tảng xây dựng vương quốc hoà bình (Ê-sai 9:6;

11:4-5). Trong thời trị vì của Đấng Christ  “sự công bình và sự bình

an đã hôn nhau”(Thi 85:10). Vì nếu không có công bình, cũng

không có hòa bình, và hòa bình nếu không đặt nền trên sự công

bình thì sẽ trở thành vô nghĩa. Sỡ dĩ thế giới hôm nay vắng bóng

hòa bình, vì công lý bị quyền lực kẻ ác bách hại. Nhưng khi Đấng

Christ đến, quyền lực kẻ ác bị diệt trừ, và  “mặt trời công bình sẽ

mọc lên”, tất nhiên hòa bình sẽ xuất hiện (Mal 4:2).  Vì lẽ cần nầy,

sự trị vì của Đấng Christ mang hai sắc thái đặc thù như sau:

73

(1) Sự công nghĩa đầy dẫy (Ê-sai 11:2-3). Hòabình sẽ trở

thành vô hiệu khi sự công nghĩa không có đủquyền năng thực thi

đúng mức.

(2) Chánh sách công nghĩa bất di bất dịch: Khải Huyền 19:15

bày tỏ Đấng Christ sẽ cai trị thế gian bằng cây gậy sắt.  “Cây gậy

sắt”tiêu biểu cho đường lối trị vì của Đấng Christ là đường lối cứng

rắn (chánh trực và ngay thẳng), bất di bất dịch của Ngài về sự

công nghĩa. Quyết không có sự nhượng bộ củacông lý cho sự bất

công. Người ác chắc sẽ bị tiêu diệt trước “cây gậy sắt”của Ngài.

Dưới sự trị vì của vua hoà bình, sẽ không còn có những nạn nhân

của những bất công xã hội, của người có thế lực trên người cô thế!

3. Những điều xảy ra trong sự thành lập nướcngàn năm.

Khi Đấng Christ đến lần thứ hai sẽ có những điều xảy ra như sau:

(1) Quốc gia Do Thái hoàn toàn được phục hồi(Ê-sai 35,60).

(2) Dân Do Thái được sự cứu rỗi của Chúa, được sự tẩy sạch và

được ban cho lòng mới với sự ngự trị của Đức Thánh Linh (Êxê

36:24-28; Giô 2:32; Giê 31:33-34). Họ sẽ giữ vai trò quan trọng trong

sự rao truyền sự công nghĩa của Đức Chúa Trời cho thế giới, và đem

sự cứu rỗi cho các dân (Xa 8:23; Ê-sai 44:8,21; 61:6,21). Giê-ru-sa-lem trở thành thủ đô hòa bình của thế giới,cũng là trung tâm thờ

phượng Đức Chúa Trời, nơi qui tụ các dân đến ra mắt Chúa và tìm

kiếm Ngài (Ê-sai 2:3-4; Xa 8:2-3;20-23). Hình ảnh nầy sẽ làm ứng

nghiệm lời hứa của Chúa với Áp-ra-ham trong  Sáng Thế Ký 12:1-3;

“Các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước”.

(3) Muôn dân đầu phục Đấng Christ (Xa 14:9; Ê-sai 9:6). Sau

khi mọi chấp chánh của thế gian bị diệt trừ,các dân sẽ thuận phục

Đấng Christ là Vua của các vua, Chúa của cácchúa.

4. Cảnh trạng của Nước Thiên hi niên.

74

Dưới sự trị vì của Đấng Christ, thế giới trong thời Thiên hi niên

được mô tả trong những điểm sau:

(1) Thế giới hòa bình (Mi 4:3; Ê-sai 2:4): Khí  giới chiến tranh

được biến thành công cụ hữu ích.

(2) Đạo Chúa được rao truyền và khắp đất đầy dẫy sự hiểu biết

Đức Chúa Trời (Phi 2:11; Ê-sai 45:23; 11:9; 52:7).

(3) Muôn vật được giải cứu khỏi sự rủa sả (Rô 8:20-21).

(4) Về thuộc linh, con người được tương giao với Chúa, được sự

hiện diện của Đức Thánh Linh và sự thông biết Ngài, về tinh thần,

được vui vẻ, tự do, không còn bị kẻ ác áp bức; về vật chất, được an

cư lạc nghiệp, và sống lâu, hạnh phúc (Ê-sai 2:4; 11:1-9; 35:5-6;

61:1-3; Xa 8:4-8).

Những điểm mô tả trên cho chúng ta thấy mộtbức ảnh đẹp tuyệt

vời của nước ngàn năm bình an mà chỉ có ĐứcChúa Trời mới thực

hiện được và đây là điều mà nhân loại đangmong mỏi đợi chờ.

Tóm lược.

1. Nước ngàn năm bình an là giáo lý được Kinh Thánh bày tỏ và

được thấy trong niềm tin của Cơ đốc nhân.

2. Nước Thiên hi niên được bắt đầu sau khi Đấng Christ tái lâm,

chiến thắng An-ti-christ và các vua thế gian,  hình phạt An-ti-christ

và tiên tri giả trong hồ lửa, giam giữ sa-tantrong vực sâu.

3. Trong nước Thiên hi niên, Hội Thánh được đồng trị với Đấng

Christ.

4. Chánh thể trong nước ngàn năm bình an là chánh thể thần

quyền và đường lối cai trị là công bình và chánh trực.

5. Trong thời Thiên hi niên, quốc gia Do Thái  được phục hồi

hoàn toàn, dân Do Thái được cứu và trở thành những người đem tin

mừng cho thế giới. Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành thủ đô của nước

Thiên hi niên và trung tâm thờ phượng của thế giới.

75

6. Các dân trên đất đầu phục sự trị vì của  Chúa. Trong thời đại

Thiên hi niên, muôn vật được giải cứu, thế giới hoà bình, dân cư sống

tự do, hạnh phúc, vui vẻ, sống lâu, và đầy dẫy sự hiểu biết Chúa.

7. Mục đích của nước thời Thiên hi niên là chuẩn bị cho Nước

vinh hiển sau đó.

II. CÂU HỎI SUY GẪM VÀ ỨNG DỤNG.

1. Xin đọc những câu Kinh Thánh sau đây và tìm hiểu:

a. Ê-sai 53: Vị tiên tri nói về sự hiện đến của Đấng Mê-si trong

tư cách nào?

b. Ê-sai 2:2-4; 9:5-6; 11:1-6: Vị tiên tri nói về sự hiện đến lần

hai trong tư cách nào? Với mục đích gì?

c. Mi-chê 4:1-4; Xa-cha-ri 14:8-11: Lời tiên trinói gì về sự hiện

đến lần thứ hai của Chúa Giê-xu?

d. Công 3:19-21: Lời tiên tri của sứ đồ Phi-e-rơ chỉ về điều gì?

e. Khải Huyền 19:11-20:1-4: Sự hiện thấy của  Giăng về Đấng

Christ tái lâm và cai trị ngàn năm trên đất có liên quan thế nào với

các lời tiên tri trong Cựu Ước?

2. Sự liên quan trên chứng tỏ cho chúng ta về lẽ thật nào?

3. Xin ghi nhận các sự kiện xảy ra qua những câu Kinh Thánh sau

đây: (a) Khải 1:7; Ma-thi-ơ 24:30. (b) Khải 19:11-21. (c) Khải

30:1-3. (d) Khải 20:4-6. (e) Ma-thi-ơ 25:31-32.

4. Diễn tiến của các sự kiện xảy ra có ý nghĩa gì trong sự thiết lập

nước ngàn năm bình an?

5. Xin đọc những câu Kinh Thánh Ê-sai 9:5-6; 11:1-6; Khải Huyền

11:15 và tìm hiểu:

a. Đấng cai trị nước ngàn năm là ai?

b. Chính thể và chính sách hay đường lối cai trị của Đấng Christ

như thế nào?

76

c. Hai điều trên có liên hệ gì đến nền hòa  bình trong thời đại

Thiên hi niên? Xin giải thích.

6. Xin tìm hiểu:

a. Khải Huyền 11:15: Nước của Đấng Christ bao  gồm trong

phạm vi nào?

b. Khải Huyền 20:4-6: Ai sẽ được dự phần vớiĐấng Christ trong

sự cai trị nước ngàn năm bình an?

c. Ê-sai 54:1-3; A-mốt 9:11-15; Ê-xê-chi-ên 36:24-28: Theo tiên

tri, hai điều gì sẽ được ứng nghiệm cho dân Do Thái khi Đấng Christ

trị vì (về quốc gia Y-sơ-ra-ên và về đời sống thuộc linh của họ).

d. Xa-cha-ri 8:3,22-23; 14:16-17; Ê-sai 2:2-3: Trong nước ngàn

năm bình an, thành Giê-ru-sa-lem, và tuyển dân Do Thái giữ vai trò

quan trọng như thế nào? Vai trò nầy có nghĩa  gì đối với lời Đức

Chúa Trời hứa cùng Áp-ra-ham trong Sáng Thế Ký 12:1-3?

e. Ê-sai 2:4; 11:6-11; Xa-cha-ri 8:4-8,20-22; Rô-ma 8:10-20: Xin

mô tả cảnh trạng của Nước ngàn năm bình an,về muôn vật, về

loài người trong đời sống tâm linh (tôn giáo), tinh thần và vật chất.

7. Xin tóm lược những đặc điểm của nước ngàn năm bình an.

Những đặc điểm nầy của nước ngàn năm có liên quan thế nào

với nước vĩnh viễn sau đó?

 

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 08.03.2015

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 08.03.2015

in NAM GIỚI on 15 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 08.03.2015.

1. Đề tài: CHÚA NHẬT PHỤ NỮ TIN LÀNH.

2. Kinh Thánh: 1Phi-e-rơ 3:8-17.

3. Câu gốc:  “Phải lánh điều dữ, làm điều lành, tìm sự hòa bình

mà đuổi theo” (1Phi 3:11).

4. Đố Kinh Thánh: 2Sử Ký 5-8.

5. Thể loại: Thi nấu ăn.

65

* CHỈ DẪN: Thi nấu ăn.

1. Mục đích: Tạo điều kiện cho nam nam giới có cơ hội giúp đỡ

các bạn nữ trong ngày Phụ nữ Tin Lành, yêu  thương giúp đỡ qua

các sinh hoạt cộng đồng, thêm khả năng tổ chức, thông công vui

vẻ trong Chúa.

2. Ban hướng dẫn chuẩn bị.

a. Mời người trong ban chấp sự Hội Thánh làmgiám khảo.

b. Thông báo thể lệ thi cho các bạn nam trongcác nhóm. Yêu

cầu họ chuẩn bị các vật dụng nấu ăn (bếp củi, nồi, dao, thớt…) và

vật dụng ăn uống (tô, chén, dĩa, đũa…) cho nhóm của mình.

c. Lo sắm nhiều phần thức ăn bằng nhau (gạo,thịt, cá, tôm,

rau cải, bột ngọt, dầu…). Số phần thức ăntương ứng với số nhóm

của ban nam giới.

3. Thi nấu ăn.

a. Một người chia sẻ ngắn (10 phút) về ý nghĩa của phân đoạn

Kinh Thánh làm nền và câu gốc.

b. Trưởng ban thông báo thể lệ cuộc thi.

– Các nhóm tập trung hàng dọc trước ban hướng dẫn và sẽ

được phân phát thức ăn giống nhau.

– Sau hiệu lệnh, các nhóm sẽ nấu ăn trong vòng 30 phút (cơm

và 2-3 món ăn) và dọn ra trên dĩa hoặc tô.

– Đúng giờ, ban giám khảo sẽ chấm điểm:

_Tổ chức qui củ: 10 điểm.

_Sạch sẽ và ngăn nắp: 10 điểm.

_Tinh thần làm việc hăng say, vui vẻ và đoànkết: 10 điểm.

_Thức ăn ngon, mỗi món (cả cơm): 10 điểm.

_Bày biện thức ăn đẹp: 10 điểm.

c. Phát thưởng và thông công.

66

– Tuyên bố điểm và phát thưởng.

– Dọn và ăn chung với nhau.

4. Chỉ dẫn nấu ăn.

Sau đó, những người nấu ăn ngon sẽ lần lượtchỉ dẫn các chị em

khác cách nấu ăn, để nam thanh niên trở thành những người biết

giúp đỡ, chia sẻ những việc làm của phụ nữtrong gia đình.

* MÓN ĂN THAM KHẢO.

BÔNG CẢI CHIÊN GIÒN.

Nguyên liệu.

– 250g bông cải, cắt miếng, rửa sạch.

– 1 gói bột chiên giòn.

– 2 lòng trắng trứng gà.

– Hạt nêm từ thịt, tiêu, dầu ăn.

Thực hiện.

– Bông cải luộc chín, vớt ra để ráo.

– Cho bột chiên, lòng trắng trứng, hạt nêm,  tiêu đánh trộn đều.

Nếu thấy bột đặc cho thêm chút nước đá để bột được tan đều.

– Nhúng từng bông cải vào bột, cho vào chảodầu nóng, chiên

vàng, vớt ra giấy thấm dầu.

Làm nước sốt.

– 40g đường vàng, 1 thìa canh giấm trắng, 1 tép tỏi đập giập, 1

quả ớt chẻ đôi bỏ hạt, 1 thìa canh nước cốtchanh, rau mùi thái

nhuyễn, hạt nêm.

Hòa tan đường, giấm, nước cốt chanh, tỏi, ớt, rau mùi và muối,

để lạnh.

Thưởng thức.

Dọn ăn nóng với sốt lạnh.

67

XÚP RAU CỦ THẬP CẨM.

Nguyên liệu:

– Xương sườn: 500g – Khoai tây: 200g – Khoai lang: 200g – Khoai

sọ (khoai môn): 200g – Su hào: 1 củ – Đậu trắng: 200g – Hành,

ngò, hạt nêm.

Cách làm:

Xương chọn phần sườn thăn, rửa sạch, chặt thành từng khúc vừa

phải rồi đổ vào soong ninh kỹ lấy nước ngọt. Hành ngò nhặt bỏ rễ,

thái khúc.

Khoai tây, khoai lang, su hào, khoai sọ gọt bỏ vỏ, rửa sạch, thái

thành miếng nhỏ vừa. Đậu trắng cho vào soongluộc qua rồi đem ra

bóc vỏ. Khi xương đã nhừ thì cho khoai, đậu trắng đã bóc vỏ vào

ninh cùng. Khi đậu và khoai đã nhừ thì dùng muỗng hoặc đũa khuấy

thật kỹ để rau củ ra chất bột sánh là được. Nêm hạt nêm cho vừa ăn

rồi cho hành ngò vào. Món nầy ăn nóng cùngvới bánh mì.

CHÈ CHUỐI.

Nguyên liệu:

– Nước cốt dừa 400ml.

– 2-3 quả chuối sứ (xiêm).

– Đường, vừng, muối.

Cách làm:

– Chuối sứ (xiêm) chọn quả chín, có vị ngọt  đậm, ăn không

chát. Chuối bóc vỏ, bổ làm tư theo chiều dọc và chiều ngang quả.

– Vừng rang chín vàng, tẩy sạch vỏ, để riêng.

– Cho nước cốt dừa vào đun vừa lửa, nêm chút muối, đường vừa ăn

(có thể cho rất ít muối, đường hoặc cho nhiều tùy theo khẩu vị), vừa

đun vừa khuấy nhẹ đều tay, khi sôi cho chuối vào đun nhỏ lửa, thỉnh

68

thoảng lại khuấy nhẹ vài lần, đun cho đến khi chuối chín mềm (đun

từ 6-8 phút tùy vào độ cứng của chuối) thì tắt bếp để nguội.

– Múc chè ra thố, rắc vừng lên trên rồi đặt vào tủ lạnh, khi nào

ăn mới đem ra múc vào bát con.

– Có thể ăn chè chuối ngay khi còn nóng cũng rất ngon.

 

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 01.03.2015

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 01.03.2015

in NAM GIỚI on 15 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 01.03.2015.

1. Đề tài: HÃY VÀO CỬA HẸP.

2. Kinh Thánh:Ma-thi-ơ 7:13-14.

3. Câu gốc:  “…Cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống”  (Mat

7:14a).

4. Đố Kinh Thánh:Không đố Kinh Thánh.

5. Thể loại:Truyền giảng.

* CHỈ DẪN: Truyền giảng.

1. Vì buổi truyền giảng dành cho người chưa biết Chúa, nên

chúng ta phải soạn chương trình như thế nào để thân hữu có thể

tham gia mọi tiết mục. Vì thế bạn phải:

a. Để các tiết mục thường lệ của sự thờ phượng qua tuần kế

tiếp như: Câu gốc, bài hát khẩu hiệu, hạt giống tốt (trả câu gốc cũ,

học câu gốc mới), đố Kinh Thánh, dâng tiền,đọc bài cầu nguyện

chung…

b. Chương trình phải giản dị, ngắn (tối đa là 75 phút), dễ hiểu

và linh động bằng cách thay đổi thể loại trình bày sứ điệp: Chia sẻ,

62

thuyết trình, giải đáp thắc mắc, thảo luận, kịch, xem phim Tin lành,

ca nhạc thánh, sinh hoạt…

2. Ban hướng dẫn chịu trách nhiệm buổi truyềngiảng để huy

động mọi ban viên tham gia: Cầu nguyện, mời thân hữu, tiếp tân…

3. Nên có giờ trà đàm: Ăn bánh, uống nước,thảo luận, làm

chứng để tạo tình thân và kêu gọi tin Chúa.

* TÀI LIỆU THAM KHẢO.

HÃY VÀO CỬA HẸP.

Đây là lời phán của Chúa Giê-xu gần 2.000 năm trước, tức là lúc

Ngài còn tại thế. Ta hãy cùng nhau suy nghĩ…

I. CỬA HẸP LÀ GÌ?

Cửa hẹp là cửa có bề ngang quá nhỏ.

Khi chúng ta muốn vào thành nào hay nhà nào  thì phải đi qua

cánh cửa, khi chúng ta muốn vào thiên đàng cũng vậy. Chúa Giê-xu

ví cửa Thiên đàng hay các sự dạy dỗ của Ngài về thiên đàng giống

như cửa hẹp. Tại sao Ngài phán câu nầy? Có lẽ vì trong vòng các

thính giả có người cho rằng đạo lý cùng cácsự dạy dỗ của Chúa là

khó quá, nên Ngài dùng điều nầy để khuyên lơn họ.

Người muốn vào cửa hẹp thì không thể vừa đội trên đầu, vừa

mang gánh trên vai, vừa ôm trong lòng đủ cácthứ hành lý, mà

phải đi mình không và còn phải nép mình mà đi mới được. Cũng

vậy, người muốn vào thiên đàng, hay muốn theo Chúa thì phải bỏ

khỏi mình những tội lỗi dễ vấn vương, những sự mê tham của mắt,

của xác thịt và sự kiêu ngạo của đời, phảitừ chối các điều ưa muốn

của xác thịt mới được.

Bởi vậy xưa nay có người cho rằng, theo Chúa là vào cửa hẹp và

con đường chật quá vì phải bỏ các sự vui thú của trần gian. Họ ước

ao tìm một tôn giáo nào cũng được, miễn là  tự do làm những điều

mình muốn, thỏa mãn sự ham muốn của tư dục mình. Đó là cửa

63

rộng và đường khoảng khoát. Song Chúa Giê-xubiết đích đến của

mỗi con đường, nên khuyên bảo rằng: “Hãy vào cửa hẹp!”

II. TẠI SAO NÊN VÀO CỬA HẸP?

Duyên cớ nào mà ta nên vào hay phải chọn lấy cửa hẹp?

“Vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất”.Lẽ

tự nhiên ai cũng muốn vào cửa rộng và đi trên con đường khoảng

khoát, vì tại đó họ thấy dễ chịu. Nghĩa là theo con đường này thì họ

được tự do sống theo tư dục, phóng túng, hoang đàng, thời gian đầu

xem dường như sung sướng lắm, thể xác lấy làm ưa thích. Song

điểm cuối của con đường ấy đưa họ đến sự hưmất, sự trầm luân

đời đời trong hoả ngục. Lời Chúa phán: “Vì ai gieo giống chi, lại gặt

giống ấy”  (Gal 6:7b);  “Đức Chúa Trời báo trả cho mỗi người tùy

đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm” (Giê 17:10).

Dẫu có nhiều kẻ vào đó, song chớ thấy đôngmà nghĩ là hay, là

đúng. Chúng ta phải suy nghĩ: Con cá sống là  con cá lội ngược

dòng còn con cá chết là con cá trôi theo dòng nước. Chạy theo

người khác, chạy theo hoàn cảnh thuận lợi đôi khi dẫn đến bại

hoại, dẫn đến hư mất. Lời Chúa dạy: “Có một con đường coi dường

chánh đáng cho loài người, nhưng cuối cùng nó thành ra cái nẻo

sự chết” (Châm 16:25).

“Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống…”Cửa hẹp và

đường chật thật khó đi, vì lẽ đó ít có người chịu đi vào cửa hẹp và

đường chật. Người chọn đi trên đường nầy gặp nhiều khó khăn về

thể xác, song sự khó khăn nầy chỉ tạm thời  trên đất. Còn về phần

tâm linh người đó sẽ hưởng được kết quả tốt đẹp nhất là được sự

sống đời đời! Như vậy, lấy sự khó khăn tạmthời so với sự vinh

hiển đời đời, ta nên chọn đi trên con đường  hẹp là hơn. Vì chẳng

có gì đáng sánh với sự tốt đẹp trong nước vinh hiển của Chúa “Vậy

nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng

người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. Vì sự hoạn nạn

64

nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sựvinh hiển cao

trọng đời đời, vô lượng vô biên, bởi chúngta chẳng chăm sự

không thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự

thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời

không cùng vậy (2Côr 4:16-18).

Bây giờ ta chịu khó gieo để tương lai được gặt. Bây giờ ta hãy

chuẩn bị để tương lai được vui hưởng. Nếu không có tâm chí ấy thì

trên đời nầy chẳng ai làm được một việc íchlợi nào cả.

“Mặc dầu kẻ kiếm được thì ít”.

Song khi biết rằng số ít người chọn đi trên con đường tốt đẹp

thì ta nên chọn đi hơn, vì kết quả khả quan hơn. Ôi, ước gì mỗi

người có mặt trong buổi nhóm nầy được dự phần vào số ít người

ấy, vì là số Đức Chúa Trời lựa chọn làm dân sự của Ngài.

* Kết luận:Thưa quý vị! Đời người là một cuộc hành trình. Quý

vị đang đi trên con đường nào? Lẽ nào quý vị  cứ tiếp tục đi trên

con đường khoảng khoát để đến sự hư mất linhhồn đời đời sao?

Quý vị có muốn linh hồn mình trầm luân trong hỏa ngục, đời đời xa

cách Đức Chúa Trời không? Nếu không, quý vịphải quay đầu lại,

phải từ bỏ con đường cũ mà bước vào con đường mới, là con đường

quý vị chọn tin Chúa Giê-xu để được sự cứu rỗi ngay hôm nay.

 

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 22.02.2015.

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 22.02.2015.

in NAM GIỚI on 7 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 22.02.2015.

1. Đề tài: XUÂN TẠ ƠN.

2. Kinh Thánh:Thi Thiên 33.

3. Câu gốc:  “Tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sự ban cho của Ngài không xiết kể!” (2Côr 9:15).

4. Đố Kinh Thánh:Đố theo chủ đề.

5. Thể loại:Họp bạn – Đố Kinh Thánh.

* CHỈ DẪN: Họp bạn.

1. Tham dự: Mời một hay nhiều ban thanh niên của các Hội

Thánh tham dự họp bạn.

2. Chương trình: Nhiều tuần trước ngày họp bạn, mời đại diện

các ban thanh niên họp lại để cùng hoạch định chương trình và

phân chia công tác:

– Thời gian, địa điểm, chủ đề, câu gốc, thể loại thực hiện…

– Phân chia trách nhiệm cho từng ban: Tập hát, làm chứng, đố

Kinh Thánh, phần thưởng, sinh hoạt, hướng dẫnchương trình, ẩm

thực… Mỗi ban chịu một số tiết mục, nên mờimột người soạn và

đố Kinh Thánh.

3. Tiết mục: Các tiết mục nên có trong ngàyhọp bạn là: Bài ca

mới, ca ngợi và cảm tạ, đố vui, kịch, trò chơi lớn…

4. Bảng tên: Dự kiến số người tham dự và số người cho mỗi

nhóm để chuẩn bị các màu giấy thích hợp cho việc chia nhóm, mỗi

màu là một nhóm. Bảng tên phải ghi rõ tên và Hội Thánh, để mọi

người dễ làm quen. Sau đó mỗi nhóm cử một trưởng nhóm, một thư

ký nhóm điều khiển nhóm mình tham gia trò chơi và sinh hoạt.

5. Phần thưởng: Phần thưởng cho sinh hoạt nhóm phải sử dụng

phù hợp cho giờ thông công sau đó.

* CHỈ DẪN: Đố Kinh Thánh.

Họp bạn kỳ này đúng vào dịp đầu năm mới âm lịch, người đố Kinh

Thánh nên soạn câu đố theo đề tài năm mới,nội dung phải phù hợp

với trình độ của ban viên, nếu không đủ KinhThánh thì đố theo trí nhớ

(xem cách đố Kinh Thánh trong “Phương Pháp Tổ  Chức Các Ban

Ngành Trong Hội Thánh”).

1. Mỗi ban thanh niên nên cử ra một đại diệntham gia ban

giám khảo. Các giám khảo phải có đáp án trước để việc chấm

điểm được chính xác và công bằng.

2. Mỗi câu trả lời đúng được 10 điểm, sai bịtrừ 5 điểm. Sau đó

tổng kết và phát thưởng.

 

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 15.02.2015.

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 15.02.2015.

in NAM GIỚI on 7 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 15.02.2015.

1. Đề tài: CÁC CUỘC PHÁN XÉT.

2. Kinh Thánh:Rô-ma 2:1-11; 4:10-12.

3. Câu gốc:  “Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án

Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùytheo điều thiện

hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt”(2Côr 5:10).

4. Đố Kinh Thánh: 2Sử Ký 1-4.

5. Thể loại: Phỏng vấn.

* CHỈ DẪN: Phỏng vấn.

1. Chọn một người đóng vai Phao-lô và một người làm phóng viên.

2. Dựa trên tài liệu tham khảo và phần Kinh Thánh làm nền để

soạn ra nhiều câu hỏi và câu trả lời cho các diễn viên học thuộc.

Các câu hỏi và câu trả lời cần phải ngắn  gọn nhưng đầy đủ ý

49

nghĩa, đồng thời phải gây hứng thú cho ngườinghe để họ dễ nhớ

nội dung của buổi học Kinh Thánh.

3. Mời trước một người đúc kết buổi phỏng vấn và nêu lên

những điều học hỏi được từ câu chuyện. Cầunguyện kết thúc (có

thể mời nhân vật được phỏng vấn cầu nguyện).

* GỢI Ý PHỎNG VẤN.

(Sau khi NHD giới thiệu thể loại chương trình thờ phượng, phóng

viên từ dưới phòng nhóm đi lên và Phao-lô từ ngoài bước vào

phòng nhóm).

– Phóng viên: Dạ xin kính chào cụ Phao-lô!

– Phao-lô: Chào các cháu!

– PV:  Chúng cháu rất vui vì được cụ đến thăm hôm  nay. Thay

cho các bạn thanh niên trong Hội Thánh, cháu  xin có lời chào

mừng và hoan nghênh cụ. Nhân buổi gặp gỡ nầy cụ có thể giúp

chúng cháu tìm hiểu về các cuộc phán xét xảy ra trong tương lai

không thưa cụ?

– Phao-lô: Được, các cháu cứ hỏi, ta sẽ giúp các cháu trong khả

năng của ta.

– PV: Xin cụ vui lòng cho biết vì sao Chúa không phán xét ngay

trong hiện tại mà phải chờ đợi phán xét trong tương lai?

– Phao-lô: Sự phán xét thuộc quyền tối cao của Chúa và Ngài có

thời điểm cho công việc nầy.

– PV:  Thì ra là vậy. Xin cụ vui lòng cho biết lý doĐức Chúa

Trời thi hành sự phán xét?

– Phao-lô: Sự phán xét là điều phải có vì những lý do sau: (1)

Thi hành sự công nghĩa của Ngài. (2) Làm rạng rỡ ơn cứu chuộc kỳ

diệu của Đấng Christ mà hiện nay chưa được bày tỏ.

– PV:  Cụ có thể cho cháu hiểu mục đích của sự phán xét là gì

không?

50

– Phao-lô: Mục đích của sự phán xét là bày  tỏ sự công nghĩa

của Đức Chúa Trời trong sự ban thưởng người  công bình và hình

phạt người ác.

– PV: Thưa cụ, có phải tất cả người công bình đềuđược thưởng

và tất cả người công bình đều bị hình phạt không?

– Phao-lô: Không hề như vậy. Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng hay

hình phạt mỗi người tùy theo việc họ làm.

– PV:  Thưa cụ, thế nào là người công bình và người không

công bình?

– Phao-lô: Theo Kinh Thánh thì không có người  công bình trên

đất, sự công bình của con người như áo nhớp  trước mặt Đức Chúa

Trời. Người được Chúa xưng công bình là người tin nhận Giê-xu làm

Chúa Cứu Thế và người không công bình là người chẳng tin.

– PV:  Thưa cụ, vậy những người sống trong thời đạikhông có

Kinh Thánh, không biết Đức Chúa Trời thì bị liệt vào hạng người

không công bình và bị Đức Chúa Trời đoán phạt sao?

– Phao-lô: Đức Chúa Trời là Đấng Công Bình.  Sự phán xét của

Ngài đặt trên những nguyên tắc căn bản sau:

(1)Với những người có luật pháp hay có Kinh Thánhthì dựa

trên luật của Kinh Thánh mà bị xét đoán.

(2)Với những người không có luật phápthì bởi lương tri và sự

tỏ ra của Ngài trong cõi thiên nhiên mà bị xét đoán.

(3)Với những người ở dưới ân điển cứu rỗithì bởi thái độ của

họ tin nhận hay chối bỏ mà bị đoán xét.

– PV: Cám ơn Chúa về sự phán xét công bình của Ngài. Xin cụ

vui lòng cho biết thêm về sự phán xét của Đức Chúa Trời.

– Phao-lô: Sự phán xét của Đức Chúa Trời có tính đặc biệt sau:

(1)Cá nhân:Mỗi người phải khai trình việc mình làm với Chúa.

(2)Phổ quát:Mọi người phải ứng hầu trước tòa án của Chúa.

51

(3)Công bình:Đức Chúa Trời là Đấng toàn tri, là Đấng thẩm định

và thưởng phạt một cách tương xứng nên không có sự khiếu nại.

– PV:Xin cụ cho biết trong các cuộc phán xét nầyai là quan

tòa và ai là bị cáo?

–  Phao-lô: Chúa Giê-xu là Quan tòa, còn bị cáotrong mỗi phiên

tòa khác nhau.

– PV:Khác nhau như thế nào xin cụ giải thích cho cháu hiểu với.

– Phao-lô: Qua sự bày tỏ của Kinh Thánh, sự xét đoán được diễn

tiến như sau:

(1)Phán xét Hội Thánh: Để xét thưởng người được xưng công bình.

(2)  Phán xét các nước:Phán xét dân Do-thái và dân ngoại để

phân chia người tin và người chẳng tin.

(3)  Phán xét thiên sứ ác và sa-tan:Chúa nhốt sa-tan vào địa

ngục vào thời đại ngàn năm bình an.

(4)  Phán xét cuối cùng:Sau thời đại ngàn năm bình an, những

người chẳng tin từ thời A-đam sống lại để chịu sự đoán phạt đời đời

trong hỏa ngục, tức là sự chết thứ hai.

– PV:  Cám ơn cụ đã giúp chúng cháu hiểu rõ hơn về các cuộc

phán xét của Chúa trong tương lai. Biết rõ điều nầy chúng cháu

hứa sẽ hầu việc Chúa cách trung tín để đượcChúa ban thưởng và

sốt sắng đi giải cứu người đang bị đùa đến nơi khổ hình.

NHD:Thưa các bạn! Chúng ta vừa nghe cụ Phao-lô giãi bày về

các cuộc phán xét trong tương lai. Nguyện Chúa Thánh Linh ban

năng lực để chúng ta làm trọn những điều mình hứa nguyện với

Chúa qua bài học nầy. Mời các bạn đứng lênvà mời cụ Phao-lô

cầu nguyện cho chúng cháu.

* TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Một trong những vấn đề con người không thể giải quyết nổi là

sự bất công trong xã hội. Với sự lan tràn của tội lỗi, thì thế gian

52

không còn công lý! Tuy nhiên trong lương tri con người vẫn nhận

biết có Đấng báo ân, báo oán, có luật công bình ở đời sau. Có

những câu răn người ác được thấy trong Ca dao Việt Nam như:

“Lưới trời lồng lộng mà chẳng lọt ai” hoặc  “Ở hiền gặp lành, ở ác

gặp dữ” hay “Gieo gió gặt bão” v.v..

Kinh Thánh nói quả quyết về ngày phán xét công bình của Chúa

trên người công bình và người ác. Sự phán xét của Ngài đặt trên

tiêu chuẩn nào? Có tính chất gì? Và sẽ đượcxảy ra như thế nào?

I. DẪN GIẢI.

A. LÝ DO VÀ MỤC ĐÍCH CỦA SỰ PHÁN XÉT.

1. Lý do của sự phán xét.

a. Thi hành sự công nghĩa của Chúa.

Sự đoán xét là thuộc quyền tối cao của Chúa, và Ngài có thời

điểm cho việc nầy. Luật của Đức Chúa Trời đã định cho loài người

phải chết một lần rồi chịu phán xét (Hêb 9:27). Phao-lô khuyên các

tín hữu “chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến” (1Côr 4:5).

b. Thể hiện cách trọn vẹn sự công nghĩa củaĐức Chúa Trời.

Mặc dầu người ác có hưng thạnh trong đời nầy, nhưng “luật

báo ứng” cũng được thấy rõ. Tuy nhiên điều đó chưa được đầy trọn

theo công lý của Chúa. Cho nên sự phán xét chắc sẽ đến như trong

lời Phao-lô cảnh cáo con người về thái độ khinh lờn sự công nghĩa

của Chúa, là Đấng sẽ trả cho mỗi người tùytheo công việc mình

(Rô 2:5-6).

c. Làm rạng rỡ ơn cứu chuộc kỳ diệu của Đấng Christ mà

hiện nay chưa được bày tỏ.

Vì trong ngày phán xét, công lao cứu chuộc của Ngài sẽ được

chiếu rạng trong người được chuộc với sự banthưởng mão miện

sáng láng, đồng thời đoán phạt người chẳng  tin:  “Trong khi Đức

Chúa Giê-xu từ trời hiện đến với các thiênsứ của quyền phép

53

Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù người chẳng hề nhận biết Đức

Chúa Trời, và không vâng phục Tin Lành của  Đức Chúa Giê-xu

Christ chúng ta. Khi Ngài sẽ đến trong ngày đó, để được sáng

danh trong các thánh đồ, được khen ngợi trong  mọi người tin…”

(2Tês 1:7-8,10).

2. Mục đích của sự phán xét.

Các lý do nêu trên cho thấy điểm chính trong  sự phán xét

không phải tra xét để chứng tỏ người nầy có tội hay không có tội,

cũng không phải để quyết định số phận của người ta. Vì án phạt đã

quyết định từ khi con người còn sống trên cõi tạm, và số phận họ

cũng đã được định sẵn lúc qua đời. Tuy nhiênán phạt của Chúa có

thể bãi bỏ, số phận hư mất tương lai của conngười có thể được

thay đổi là tùy thái độ của mỗi cá nhân đối với Đức Chúa Trời trong

hiện tại, tin hay chối bỏ Ngài, vì sẽ không  có cơ hội thứ hai cho

con người sau khi chết (Giăng 3:36; 5:24; Lu 16:19-30).

Như vậy mục đích của sự phán xét sau cùng nói chung là bày tỏ

sự công nghĩa của Đức Chúa Trời trong sự banthưởng người công

bình và hình phạt người ác, để công khai biểu lộ điều kín giấu của

con người và cả vũ trụ nhìn biết sự thưởng phạt của Đức Chúa Trời

là công bình (Mat 12:36; 2Côr 5:10; Lu 12:2,8-9).

Nhà thần học L.C. Turner luận như sau: “Mục đích của sự phán

xét là sự ban thưởng và hình phạt. Không phải tất cả người được

cứu rỗi đều được thưởng giống nhau, và không phải người hư mất

đều bị xử phạt như nhau. Đức Chúa Trời sẽ trả lại cho mỗi người

thể theo việc làm của họ. Sự ban thưởng và sự xử phạt sẽ được áp

dụng thể theo trường hợp và phẩm hạnh”.

B. TIÊU CHUẨN VÀ TÁNH CHẤT CỦA SỰ PHÁN XÉT.

Theo nhà giải kinh J. D. Olsen, những nguyên tắc trong sự phán

xét nói chung được căn cứ trên hai thứ luậtpháp của Đức Chúa

Trời: Luật đạo đức và luật ân điển.

54

1. Luật đạo đức.

Luật “đạo đức” phản ảnh đức tánh công nghĩathánh khiết của

Đức Chúa Trời. Hay nói cách khác là do đức  tánh nầy mà luật đạo

đức được thiết lập và có tính chất bất biến (Mat 5:17-18). Luật đạo

đức phù hợp với con người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa

Trời, tức là được dựng nên trong sự công bình và thánh sạch của lẽ

thật, được giống Ngài trong phần đạo đức (Êph 4:24). Cho nên nếu

vi phạm luật đạo đức, có nghĩa là xúc phạm  bản tánh công nghĩa

của Đức Chúa Trời, và hậu quả là nhân cách của con người cũng bị

méo mó, hư hỏng. Vì vậy vi phạm luật đạo đức của Chúa là một tội

trọng trước mặt Ngài. Luật đạo đức được thể hiện trong ba hình thức.

a. Trong mười điều răn: Trong thời Cựu Ước, luật đạo đức đã đi

vào lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên. Qua sự kiện  Đức Chúa Trời ghi tạc

trên bảng đá mười điều răn tại núi Sinai và trao cho Môi-se truyền

dạy dân sự Ngài (Xuất 24:12).

b. Trong Kinh Thánh: Chữ “luật pháp” thường được dùng chỉ về

Ngũ Kinh Môi-se, tức là năm sách ghi chép mười điều răn và các

mạng lịnh Đức Chúa Trời phán dạy qua Môi-se  (Mat 7:12; Lu

16:16). Tuy nhiên chữ “luật pháp” cũng được dùng chỉ về cả bộ

Kinh Thánh hay lời Đức Chúa Trời. Và lời Ngài chính là luật đạo

đức, vì căn cứ theo Kinh Thánh mà người ta bịxét đoán (Hêb 4:12-13; Rô 3:19-20).

c. Trong lương tri của con người.

Luật đạo đức của Đức Chúa Trời chẳng nhữngđược ghi khắc

trên đá, được ghi chép trong Kinh Thánh, nhưngcòn được ghi tạc

trong lương tri của con người. Bằng chứng cho thấy dầu không có

luật pháp bằng văn tự, nhưng trong con người  vốn có bản tánh đạo

đức của Chúa nên có thể phân biệt điều phải, điều trái. Ý tưởng họ

khi thì cáo trách, khi thì binh vực và lương tâm chính là chứng

nhân cho luật pháp đặt trong họ (Rô 2:12-16).

55

d. Trong cõi thiên nhiên:  Thần tánh Đức Chúa Trời chẳng

những được khải thị trong Kinh Thánh, nhưng còn được bày tỏ

trong cõi thiên nhiên. Con người có thể nhậnbiết bản tánh thánh

thiện, thấy rõ luật công lý “gieo gặt” của  Ngài trong thiên nhiên

(Rô 1:20).

2. Luật ân điển.

Gọi là “Ân điển” vì luật nầy căn cứ trên công lao cứu chuộc của

Đấng Christ. Bởi ân điển và đức tin mà người ta được sự tha tội,

được cứu khỏi sự phán xét của Chúa, và được nhận vào sự sống đời

đời. Luật ân điển bao gồm hai khía cạnh:

a. Với người tin: Luật ân điển là vầng đá của sự cứu rỗi.

b. Với người chẳng tin:  Người chẳng tin tức là người chối bỏ

ân điển của Tin Lành, thì luật ân điển sẽ là vầng đá của sự đoán

phạt (Giăng 5:24; Rô 8:1; Mat 21:44; 2Côr 2:15-16). Căn cứ theo

đó mà Đấng Christ sẽ xét đoán con người trong tương lai.

Tóm lại, hai thứ luật pháp kể trên cho thấysự phán xét của Đức

Chúa Trời được đặt trên những nguyên tắc căn bản sau đây:

Với những người có luật pháp, hay nói chung  là có Kinh Thánh,

thì bởi đó mà bị đoán xét.

Với những người không có luật pháp, thì bởilương tri và sự tỏ ra

của Ngài trong cõi thiên nhiên mà bị xét đoán.

Với người ở dưới ân điển cứu rỗi, thì bởi thái độ của họ tin nhận

hay chối bỏ mà bị đoán xét.

Kinh Thánh thường nhắc đi nhắc lại rằng Đức Chúa Trời sẽ đoán

xét mọi người  “tùy theo công việc họ làm”lúc còn trong xác thịt

(Rô 2:6; Khải 20:13; 2Côr 5:10; Giăng 5:28-29).Điều này không có

nghĩa nhờ việc lành mà người được cứu khỏi  sự đoán phạt của

Chúa. Nhưng  “việc mình làm”ở đây có thể được hiểu trong hai

điểm nầy: (1) Nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân, nghĩa là mỗi người

đều chịu trách nhiệm về việc mình làm (Êxê  18:4). (2) Việc làm

56

bên ngoài là sự chứng nghiệm thực giả bên  trong, và căn cứ theo

đó Đức Chúa Trời định giá thưởng phạt. Thậtra, Đức Chúa Trời

đoán xét từ cớ tích sâu thẳm trong lòng con người, và từ đó nẩy ra

lời nói và hành động. Hành động hay việc làm bên ngoài chỉ là

“trái” chứng tỏ chân tướng bên trong của conngười. Vì trái tốt ra từ

cây tốt và trái xấu ra từ cây xấu (Mat 7:16-20; 1Côr 4:5).

Qua những nguyên tắc trên, chúng ta có thể tìm thấy vài tánh

chất đặc biệt trong sự phán xét của Đức Chúa Trời:

(1) Cá nhân (Rô 14:12): Mỗi người phải khai trình việc mình

làm trước mặt Chúa.

(2) Phổ quát: Mọi người đều phải ứng hầu trước toà án của Chúa

(Rô 14:10-12).

(3) Công bình: Tiêu chuẩn đoán xét của Chúa  không ai có thể

đối nại. Vì Đức Chúa Trời là Đấng toàn tri  thấu biết tận đáy lòng

người, nên không ai có thể binh vực mình. Vì  Đức Chúa Trời là

Đấng thẩm định nghiêm minh, thưởng phạt cách  đầy đủ và tương

xứng nên không có sự khiếu nại. Do đó đến  thì giờ phán xét của

Ngài đã định, khi cửa ân điển đã đóng, trước sự phán xét của Ngài,

loài người chỉ biết cúi đầu nhận tội mà không cần có luật sư nào để

biện hộ, cũng không có lời nào binh vực (Rô 3:19-20; 2:11).

C. THỨ TỰ VÀ KẾT CUỘC TRONG SỰ ĐOÁN XÉT.

1. Đấng đoán xét.

Chúa Giê-xu là Đấng xét đoán (Giăng 5:22).

2. Chương trình xét đoán.

a. Sự xét đoán Hội Thánh.

Thời điểm xảy ra là khi Chúa hiện đến và Hội Thánh được cất

lên gặp Ngài tại không trung. Hội Thánh sẽ  chịu sự xét đoán của

Đấng Christ (1Tês 4:17; 2Côr 5:10). Trong nguyên văn Hy-lạp từ

“ngôi xét đoán”hay  “toà án”của Đấng Christ, có hai chữ: (1)

57

Crierion, chỉ về chiếc ghế quan tòa ngồi để xét đoán theo một tiêu

chuẩn đã định. (2) Bema, chỉ một nơi cao có nhiều bậc, tiêu biểu

cho pháp đình. Theo Harrison, trong các cuộc tranh giải thể thao

của người Hy-lạp xưa, vị chủ toạ ngồi ở chỗgọi là “bema” để ban

thưởng cho người thắng cuộc. Ý nầy được Phao-lô dùng trong

phương diện thuộc linh. Trong 1Cô-rinh-tô 9:24,sứ đồ khuyên các

tín hữu, hãy  “chạy”thế nào cho được thưởng. Như vậy mục đích

của sự xét đoán Hội Thánh là để ban thưởngcho người có lòng

trung tín với Chúa trong thế gian, chớ không phải để đoán phạt họ

trong hồ lửa (2Tim 4:6-8). Các việc làm của các con cái Chúa sẽ

được Chúa định giá và ban thưởng hay quở trách. Công việc nào

đặt nền tảng trên Đấng Christ, tức là việc  làm theo ý muốn Đức

Chúa Trời, được ví sánh như vàng, bạc, bửu thạch sẽ còn lại sau

ngọn lửa thử nghiệm, chỉ về sự đoán xét vàđược ban thưởng. Trái

lại việc làm của người vì cớ tích của xác thịt, của ý riêng, thì ví như

rơm rạ, sẽ bị cháy rụi trước ngọn lửa thử nghiệm. Như vậy họ sẽ bị

mất phần thưởng (1Côr 3:11-15).

Có năm loại mão triều thiên mà Kinh Thánh nói đến dành cho

ngày ban thưởng: Mão Triều Thiên Không Hay HưNát (1Côr 9:25);

Mão Triều Thiên Của Sự Công Bình (2Tim 4:8);  Mão Triều Thiên

Của Sự Sống (Khải 2:10); Mão Triều Thiên của Sự Vinh Hiển (1Phi

5:4); Mão Triều Thiên Bằng Vàng (Khải 4:4).

b. Sự xét đoán các nước  (Mat 25:21-46): Theo các nhà giải

kinh, sự phán xét nầy bao gồm sự phán xét dân Do Thái và các

dân ngoại, và trong sự phán xét nầy có sự  tham dự của 12 sứ đồ

(Lu 22:30). Sự phán xét nầy xảy ra sau khi Đấng Christ từ trời hiện

xuống. Mục đích của sự phán xét là để phânchia giữa  “chiên”và

“dê”, tức giữa người tin và người chẳng tin. Người tin sẽ được vào

hưởng phước trong nước ngàn năm bình an với Chúa, còn người ác

sẽ bị đoán phạt đời đời.

c. Sự phán xét thiên sứ ác và sa-tan.

58

Kinh Thánh nói đến sự bỏ sa-tan vào địa ngụctrong thời đại

Thiên hi niên, trước ngày phán xét cuối cùng của thế giới (Khải

20:7-10). Kết cuộc là hồ lửa đời đời cho chúng.

d. Sự phán xét sau cùng (Khải 20:11-15):

Sự phán xét này xảy ra sau thời đại ngàn năm bình an, dành

cho tất cả người chẳng tin từ đời A-đam. Họ sống lại để chịu phán

xét. Kết cuộc là sự đoán phạt trong hồ lửa, tức là sự chết thứ hai.

Tóm lược.

1. Sự phán xét của Đức Chúa Trời là cần thiết, vì sự công nghĩa

Ngài được bày tỏ đúng mức, đúng lúc, và công lao cứu chuộc của

Đấng Christ phải được tôn vinh.

2. Sự phán xét của Chúa căn cứ trên luật đạo đức và luật ân

điển. Tánh chất của sự phán xét là: Cá nhân, phổ quát và công

bình.

3. Mục đích của sự phán xét là thưởng ngườicông bình, phạt

người ác, Đấng đoán xét là Đức Chúa Giê-xuChrist.

4. Sự phán xét bao gồm: Hội Thánh, các dân  tộc, thiên sứ ác,

satan, và cuối cùng là cả nhân loại, tức người chẳng tin.

II. CÂU HỎI SUY GẪM VÀ ỨNG DỤNG.

1. Trong những câu Kinh Thánh sau đây xin tìm ba lý do tại sao

cần có sự phán xét? Hê-bơ-rơ 9:27; 1Cô-rinh-tô 4:5, Rô-ma 2:5-6, 2Tê-sa-lô-ni-ca 1:6,10.

2. Sự phán xét của Đức Chúa Trời có ý nghĩa và mục đích gì? (Xin

xem thêm 1Tês 5:24-25; Lu 12:2,8-9; 2Côr 5:10; Khải 20:12).

3. Sự đoán xét của Chúa được đặt trên những nguyên tắc nào? Và

có nghĩa gì? Rô-ma 2:6-8,12; Rô-ma 2:12-13;3:19;Rô-ma 2:14-15; Giăng 3:36;5:24.

4. Những nguyên tắc trên được đặt trên hai tiêu chuẩn hay hai luật

nào? Và được áp dụng cho những ai?

59

5. Qua những nguyên tắc trên, xin tìm hiểu tánh chất của sự đoán

xét (Rô 2:6,11;14:10,12; Mat 12:36).

6. Xin đọc những câu Kinh Thánh sau đây và tìm hiểu: 1Côr 3:11-15; 2Côr 5:10; 1Tês 4:17; Mat 25:21.

a. Cuộc đoán xét nầy dành cho ai?

b. Khi nào? Tại sao? Do ai phán xét?

c. Sự đoán xét được đặt trên tiêu chuẩn gì?

d. Với mục đích gì? Kết cuộc thế nào?

e. Xin kể tên những mão miện của sự ban thưởng: 1Côr 9:25;

2Tim 4:8; Khải 2:10;4:4; 1Phi 5:4.

7. Mat 25:31-46: Sự đoán xét nầy dành cho ai?  Khi nào? Do ai

đoán xét? Và với mục đích gì?

8. 2Phi 2:4; Giu 6; 1Côr 6:3; Khải 20:10: Sự đoán xét nầy dành cho

ai? Khi nào? Và kết cuộc như thế nào?

9. Khải 20:11-15: Sự đoán xét nầy dành cho ai? Khi nào? Do ai

đoán xét? Và kết cuộc là gì?

10. Qua sự ghi nhận trên:

a. Xin so sánh sự khác nhau giữa sự đoán xétngười tin và người

không tin.

b. Theo tiêu chuẩn xét đoán, chúng ta học biết gì về Đức Chúa

Trời và sự công nghĩa của Ngài?

11. Các công việc bạn đang làm sẽ được Chúađịnh giá thế nào

trong sự xét đoán của Ngài? Được thưởng hay  bị Chúa quở

trách?

 

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 08.2.2015

Chương trình thờ phượng Ban Nam Giới Chúa nhật 08.2.2015

in NAM GIỚI on 7 Tháng Tư, 2015

Chúa nhật 08.02.2015.

1. Đề tài: SỰ SỐNG LẠI CỦA NGƯỜI CHẾT.

2. Kinh Thánh:Đa-ni-ên 12:2-3; Ê-sai 26:19; Giăng 5:28-29.

3. Câu gốc:  “Chớ lấy điều đó làm lạ; vì giờ đến, khi mọi người ở

trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi; ai đã làm lành thì

sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét

đoán”(Giăng 5:28-29).

4. Đố Kinh Thánh: 1Sử Ký 25-29.

5. Thể loại: Trò chơi lớn.

* CHỈ DẪN: Trò chơi lớn.

– Chủ đề: SỰ SỐNG LẠI CỦA NGƯỜI CHẾT.

– Địa điểm: Khuôn viên nhà thờ.

– Thời gian: 1h30’.

I. CHUẨN BỊ.

– Ban tổ chức cần ít nhất 2 người để phối hợp soạn câu đố Kinh

Thánh và đặt mật thư tại mỗi trạm, chấm điểm, theo dõi để có thể

hướng dẫn khi cần. Chuẩn bị nội dung cho mỗi  trạm để các nhóm

thảo luận, cung cấp giấy bút cho các nhóm có yêu cầu. Sau khi

nhận mật thư, cả nhóm sẽ tham gia giải mật thư, trình ban tổ chức

và dựa vào điều đó để tìm đến trạm. Sau khithực hiện xong các

yêu cầu của ban tổ chức, cả nhóm theo chỉ dẫn của mật thư thứ hai

để đến trạm kế tiếp…

– Mật mã: Từ nhiều tuần trước, hướng dẫn ban viên ôn lại chữ điện

tín, các mật mã đã dùng trong các tài liệu trước và học thêm mật mã

mới. Chỉ nên dùng mật mã nào ban viên có thể dịch thành thạo.

– Mật thư: Mật thư phải được viết và giữ kínđáo, kiểm tra kỹ để

tránh sai sót. Nội dung mật thư là một mệnh  lệnh hoặc gợi ý về

những nhân vật, nơi chốn… mà ban viên đã quen thuộc, đồng thời

38

phải ngắn gọn và đủ nghĩa. Mật thư được giấu tại điểm đặt trạm

hay do người đứng trạm giữ. Nếu đặt tại trạm, không nên tập trung

tại một chỗ.

– Địa điểm: Vẽ những dấu chỉ đường tùy theo địa điểm mỗi nơi.

– Vật dụng: Kinh Thánh, giấy, bút, các bản mật mã đã học.

– Kinh Thánh: Thông báo cho ban viên học thuộc lòng câu gốc

tuần nầy và đọc trước Đa-ni-ên 12:2-3; Ê-sai26:19; Giăng 5:28-29.

II. THỰC HIỆN.

1. Thể lệ cuộc thi và cách chấm điểm.

a. Thể lệ cuộc thi.

– Tất cả nhóm viên tham gia đầy đủ.

– Đến trạm, phải sắp hàng ngay ngắn và báo  cáo kết quả của

trạm trước.

– Thực hiện tất cả yêu cầu tại mỗi trạm.

b. Cách chấm điểm.

– Tinh thần tham gia (đầy đủ nhóm viên) …………………..10 điểm.

– Giải chính xác mật thư……………………………………………10 điểm.

– Thực hiện đạt yêu cầu tại trạm ………………………………..10 điểm.

– Đến trạm sớm nhất………………………………………………..10 điểm.

– Nội dung thảo luận thực hiện tốt ………………………………10 điểm.

2. Diễn tiến trò chơi.

a. Mở đầu.

Ban tổ chức chia số người tham gia sinh hoạt ra làm nhiều nhóm,

mỗi nhóm từ 8-10 người, xếp hàng dọc theo mỗi nhóm, cử nhóm

trưởng và thư ký nhóm, đặt tên nhóm. Khi các nhóm đã ổn định,

người hướng dẫn giới thiệu chủ đề: Sự sốnglại của người chết.

39

– Thưa các bạn! Sự sống lại của người chết là vấn đề vượt quá

sự hiểu biết của con người. “Làm thế nào người chết từ hàng

ngàn năm về trước sống lại được?” “Làm sao thân thể người chết

đã trở thành cát bụi lại có thể vùng dậy  thành nguyên trạng của

con người như trước?” Đây là điều huyền nhiệm. Mời các bạn

tham gia chương trình hôm nay để biết rõ về giáo lý nầy.

b. Xuất phát.

Tất cả các nhóm phải tập trung tại điểm xuất phát. Ban tổ chức

phổ biến thể lệ cuộc thi và mỗi nhóm cử rahai người đọc thuộc

lòng câu gốc Giăng 5:28-29. Nếu nhóm nào đọc đúng hoàn toàn sẽ

được nhận mật thư thứ nhất; nếu đọc sai, phải đợi đến khi tất cả

các nhóm kia đọc xong, sau đó mới được đọc lại, nhưng nhớ phải

theo thứ tự.

_Mật thư 1:TÌM NGƯỜI ĐỨNG TRƯỚC CỬA NHÀ THỜ ĐỂ NHẬN

CÂU HỎI.

_Chìa khóa: Hãy để chúng tôi được sống bên nhau.

Trạm 1.

_Yêu cầu:

– Tập trung nhóm thành hàng dọc, báo cáo sốngười trong

nhóm.

– Phát câu hỏi viết sẵn ra giấy, cho nhóm thảo luận và trả lời

câu hỏi.

1. Đọc Gióp 19:25-17 và Hê-bơ-rơ 11:9 cho biếtniềm tin của

Gióp và Áp-ra-ham về sự sống lại.

2. Đọc Ê-sai 26:19; Đa-ni-ên 12:2; Ê-xê-chi-ên 37:1-14 cho biết

Đức Chúa Trời khải thị điều gì cho các tiên tri?

3. Đọc 1Côr 15 cho biết sự sống lại của Chúa Giê-xu có ảnh

hưởng gì trên niềm tin của Cơ đốc giáo?

40

_Mật thư 2:I Ơ H C C Ộ U C C Ụ T P Ế I T Ể Đ G N Ả I G AÒ

T U A S G N Ứ Đ I Ờ Ư G N M Ì T

_Chìa khóa:  Cá lội ngược dòng.

Trạm 2.

_Yêu cầu:

– Tập trung nhóm thành hàng dọc, báo cáo sốngười trong

nhóm.

– Phát câu hỏi viết sẵn ra giấy, cho nhóm thảo luận và trả lời

câu hỏi.

Đánh số vào ô _theo thứ tự của sự sống lại.

_Sự sống lại của Cơ Đốc nhân.

_Sự sống lại của người không tin Chúa.

_Sự sống lại của Đấng Christ.

_Mật thư 3:  T E I N M S C X A V U K H I O A I L D H U S O M

I M B H U I C K H Q U P O M N Y G L D I A S N V Đ YE X H Q O

P A M N S T U A Y T N C A U X O S C H C E H L O Y I.

_Chìa khóa:  Ăn miếng trả miếng.

Trạm 3.

_Yêu cầu:

– Tập trung nhóm thành hàng dọc, báo cáo sốngười trong

nhóm.

– Phát câu hỏi viết sẵn ra giấy, cho nhóm thảo luận và trả lời

câu hỏi.

1. Đọc 1Cô-rinh-tô 15:24-29 cho biết hình thể của người tin khi

sống lại có gì khác so với thể chất trước kia?

2. Đọc Đa-ni-ên 12:2 và 1Cô-rinh-tô 15:52 cho  biết sự khác

biệt giữa hình thể người ác và người công bình (người tin)?

41

3. Kết thúc.

Thưa các bạn!

Chúng ta biết sự sống lại của người chết là điều chắc chắn vì

Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước đều nói đến.Sự sống lại của

Chúa Giê-xu bảo đảm sự sống lại của người  tin. Chính Ngài là

Đấng khiến mọi người chết sống lại. Người công bình sống lại để

được ban thưởng, và người ác sống lại bị đoán phạt.

Nguyện Chúa giúp mỗi người chúng ta sống làm theo lời Chúa

dạy để được ban thưởng trong ngày sau.

– Cầu nguyện theo sự dạy dỗ.

– Công bố kết quả và phát thưởng.

* TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Sự sống lại của người chết là vấn đề vượtquá sự hiểu biết của

con người. Dù loài người nói chung, có sự tin tưởng về đời sau, về

sự bất diệt của linh hồn, nhưng sự sống lạicủa người chết là điều

không bao giờ được nói đến. Mặc dầu y học tiến bộ như hiện nay,

khả dĩ hứa hẹn cho con người một đời sống khỏe mạnh hơn, trường

thọ hơn, tuy nhiên sự chết vẫn không thôi gieo rắc trong vòng loài

người. Việc khiến người chết từ hàng ngàn năm về trước sống lại

chẳng khác nào là chuyện giả tưởng! Thế nào xác thịt người chết

đã trở thành cát bụi, lại có thể vùng dậythành nguyên trạng của

con người như trước?

Đây là điều huyền nhiệm, một giáo lý của Cơ Đốc giáo về sự

sống lại của người chết trong ngày sau cùng.Tại sao chúng ta có

thể nói cách quả quyết như vậy? Sự lạ lùngnầy sẽ xảy ra như thế

nào? Có mục đích gì? Sự sống lại của người  công bình và của

người ác có sự khác nhau thế nào?

I. DẪN GIẢI.

A. DẪN CHỨNG VỀ SỰ SỐNG LẠI.

42

Sự sống lại của người chết là điều chắc chắn:

1. Niềm tin của các thánh xưa.

Giáo lý về sự sống lại sớm nhận biết bởi  đức tin của hai nhân

vật xa xưa nhất, đó là Áp-ra-ham và Gióp. Vìtin rằng Đức Chúa

Trời Hằng Sống, Đấng có quyền khiến người chết sống lại, nên Áp-ra-ham dâng con mình là Y-sác làm sinh tế cho  Ngài (Sáng 22:5-6; Hêb 11:19). Còn Gióp trong hoạn nạn, thân  xác bị hao mòn và

tiêu tan, nhưng tin rằng nhờ Đức Chúa Trời Hằng Sống ông sẽ được

sống lại để chính mắt ông có thể nhìn xem Ngài (Gióp 19:25-27).

2. Sự khải thị của Đức Chúa Trời cho các tiên tri trong thời

Cựu Ước.

Tiên tri Ê-sai, tiên tri Đa-ni-ên đã bày tỏ  chân lý về sự sống lại

của người chết trong bụi đất, cả người ác và người công bình (Ê-sai

26:19; Đa 12:2-3). Tiên tri Ê-xê-chi-ên được sự hiện thấy về trũng

hài cốt sống lại (Êxê 37:1-14). Tiên tri Ô-sê cũng đã nói trước về sự

chiến bại của sự chết bởi Đấng Mê-si (Ô-sê 13:14; 1Côr 15:55-57).

3. Sự tuyên bố của Chúa Giêxu.

Trong Khải Huyền 1:17-18, Chúa Giê-xu phán rằng:  “Đừng sợ

chi, Ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, là Đấng Sống, Ta

đã chết, kìa nay Ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và

Âm phủ”.Ngài đã từng khiến người chết sống lại khithi hành chức

vụ trên đất, và chính Ngài cũng là Đấng kêu người chết từ trong

mồ mả sống lại trong ngày đoán xét cuối cùng (Giăng 5:28-29).

4. Sự xác chứng của các sứ đồ.

Giáo lý về sự sống lại đã được nói đến rõ ràng trong Kinh

Thánh Tân Ước. Đặc biệt trong các thơ tín của sứ đồ Phao-lô

thường luận đến sự sống lại của người tin.  Trong 1Cô-rinh-tô 15,

Phao-lô trình bày giáo lý nầy với những lý luận vững chắc.

43

– Nếu Đấng Christ không sống lại, thì sự giảng dạy của các sứ

đồ chỉ luống công! Vì sự giảng dạy của họ đặt nền trên sự chết và

sự sống lại của Ngài.

– Nếu Đấng Christ không sống lại, thì các sứđồ là người chứng

dối cho Đức Chúa Trời!

– Nếu người chết không sống lại, thì Đấng Christ cũng không

sống lại. Như thế đức tin của Cơ Đốc nhân sẽ ra vô ích, bởi vẫn

sống trong tội lỗi và sự hư mất. Nhưng thực sự, hiện tại họ là người

được đổi mới, và có sự sống bất diệt! Mộtbằng chứng sống động

về Đấng Christ thật đã sống lại (c.12-19).

– Như vậy Đấng Christ thật sống lại, thì người ở trong Ngài cũng

sẽ sống. Trong câu 22, Phao-lô viện dẫn định  luật tất yếu về sự

sống:  “Như trong A-đam mọi người đều chết, thì cũng  một lẽ ấy,

trong Đấng Christ mọi người đều sẽ sống lại”.Vì Đấng Christ đã

sống lại và trở thành “trái đầu mùa”của sự sống, do đó người chết

trong Ngài cũng sẽ sống lại (c.23).

5. Các phép lạ về sự sống lại của người chết.

Cả Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước đều ghi nhận những phép lạ

về sự sống lại của người chết:

2Các Vua 4:8-36: Tiên tri Ê-li-sê khiến con trai của người nữ Su-nem từ người chết sống lại. Trong Ma-thi-ơ 9:25; Lu-ca 7:15; Giăng

11:43-44, Chúa Giê-xu khiến con gái Giai-ru, con trai của bà góa

thành Nain và La-xa-rơ từ người chết sống lại. Công Vụ 9:21, sứ đồ

Phi-e-rơ đã khiến bà Đô-ca sống lại.

Các phép lạ trên là bằng chứng cụ thể cho  giáo lý về sự sống

lại của người chết. Đây không phải là điềubất năng đối với quyền

phép của Đức Chúa Trời.

6. Niềm tin của người Do Thái.

Trong thời Chúa Giê-xu, giáo lý về sự sống  lại rất quen thuộc

trong tín ngưỡng của Do Thái giáo. Mặc dầu phái cấp tiến Sa-đu-sê

44

phủ nhận sự sống lại (Mat 22:23-33; Lu 20:27-38), nhưng giáo lý

nầy đã đi vào nếp sống đạo của đại chúng.  Chúng ta có thể thấy

rõ qua sự xác tín của Mathê trước sự chết của người anh La-xa-rơ

(Giăng 11:24).

7. Định luật về hạt giống trong cõi thiên nhiên.

Như hạt giống trước khi nảy mầm thành cây thì trước hết phải

gieo xuống đất và chết đi. Thân thể người chết ví như  “hạt giống”

được chôn vùi trong lòng đất, đến một ngày  chắc sẽ sống lại

(Giăng 12:24-26; 1Côr 15:35-36).

Hơn nữa hãy nhìn cảnh vật chết lạnh trong mùa đông và được hồi

sinh cách kỳ diệu vào mùa xuân. Sự kiện này đã làm sáng tỏ chân lý

về sự sống lại mà Đức Chúa Trời sẽ thể hiện trong loài người.

Tóm lại, những dẫn chứng trên cho chúng ta thấy rõ rằng lẽ

đạo về sự sống lại là một thực sự đáng tin nhận. Chúng ta trả lời

thế nào với những lý luận phủ nhận sự sống lại?

a. Chết là thể xác tiêu tán, làm thế nào sống lại được?

– Do quyền năng của Đức Chúa Trời:  “Còn như vật ngươi gieo,

ấy không phải là chính hình thể sẽ sanh ra, chẳng qua là cái hột,

như hột lúa mì hay là giống nào khác. Đức Chúa Trời cho nó hình

thể tùy ý Ngài lấy làm tốt, mỗi một hột giống, cho môt hình thể

riêng… Sự sống lại của người chết cũng như vậy. Thân thể đã

gieo ra là hay hư nát, mà sống lại là không  hay hư nát… đã gieo

ra là thể huyết khí, mà sống lại là thể thiêng liêng”(1Côr 15:37-38,42,44).

b. Nếu sống lại với một thân thể mới thì đâu phải là thật sống

lại, đó chẳng qua là một sự tái tạo nên một loài mới mà thôi.

Chúa Giê-xu sống lại trong hình thể của thânthể Ngài đã chết,

nhưng với thân thể được biến hóa. Trong thânthể mới nầy nhân

cách của người được sống lại không bị mất,  nghĩa là người ta có

thể nhận biết chính mình và nhận biết lẫn nhau. Theo sự nghiên

45

cứu của cơ thể học cho biết thể chất của con người mỗi bảy năm

có sự biến đổi một lần. Nhưng chẳng phải bởi sự biến đổi trong

các tế bào của cơ thể mà con người chúng tabảy năm, mười bốn,

hai mươi mốt năm về trước không còn là con người bây giờ của ta,

mà đã trở thành môt con người mới hay sao?

Tóm lại, sự sống lại là điều khó hiểu theosự phân tích của lý

trí, và cũng khó giải nghĩa theo ngôn ngữ loài người. Đây là lẽ mầu

nhiệm của Đức Chúa Trời bởi quyền năng siêu việt của Ngài: Đức

Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng loài người từ bụi đất, há chẳng có

thể khiến người chết từ ngàn năm sống lại  nguyên hình trạng cũ

sao? Nhưng sở dĩ người sống lại với thể chấtmới vì lý do để thích

hợp với môi trường sống trong cõi đời đời vậy.

B. THỨ TỰ CỦA SỰ SỐNG LẠI.

1. Sự sống lại của Đấng Christ.

Đấng Christ được gọi là  “trái đầu mùa”của sự sống lại. Nghĩa

là Ngài là Đấng thứ nhất sống lại từ trongngười chết (1Côr 15:20).

Mặc dầu đã có những phép lạ khiến người chết sống lại, nhưng sự

sống lại đó chỉ tạm thời với thể xác cũ hay chết. Nhưng Chúa Giê-xu là Đấng đầu tiên sống lại với thân thể chẳng hề chết.

2. Sự sống lại của người tin.

Kế đến là sự sống lại của người tin, tức người ở trong Đấng

Christ khi Ngài hiện ra (1Côr 15:23; 1Tês 4:16). Người tin có thể

gọi chung là người công bình. Theo một số nhà giải kinh, tất cả

các thánh đồ trong thời Cựu Ước cũng sẽ sống lại cùng lúc với Hội

Thánh Đấng Christ. Nhưng có số khác cho rằng  các thánh đồ thời

Cựu Ước sẽ sống lại cùng lúc với các thánh đồ chịu chết trong cơn

đại nạn khi Chúa Giêxu tái lâm, và sẽ đượctrị vì với Ngài trong

nước ngàn năm bình an (Khải 20:4-5; Ê-sai 26:19; Đa 12:2-3).

3. Sự sống lại của người ác.

46

Sau cùng là sự sống lại của người ác trải qua các thế đại kể từ

A-đam. Sự sống nầy sẽ xảy ra sau thời kỳ Thiên hi niên. Hết thảy

người ác đều được sống lại để chịu sự phánxét (Khải 20:12-15).

C. HÌNH THỂ CỦA SỰ SỐNG LẠI.

Có hai sự sống lại cho toàn thể loài người:Sự sống lại của người

tin, và sự sống lại của người chẳng tin.

a. Với người tin.

Sự sống lại trong thân thể được biến hóa. Với thân thể cũ được

sanh trong dòng dõi A-đam là thân thể bởi khíhuyết, hay hư nát,

yếu đuối, nhục nhã, và thuộc về đất. So với thân thể mới được sống

lại trong Đấng Christ, là thân thể thuộc linhkhông hay hư nát, vinh

hiển, và thuộc về trời (1Côr 15:42-49).

b. Với người chẳng tin.

Người chẳng tin sống lại trong sự hổ thẹn vìtội lỗi và bị hình

phạt (Đa 12:2-3).

Về bản chất của hình thể người ác sau khi sống lại, Kinh Thánh

không nói đến. Tuy nhiên khi chúng ta biết rằng với người tin, sự

sống lại trong thân thể được biến hóa để thích hợp với cảnh vinh

hiển thể nào thì người chẳng tin sống lại với bản chất của thân thể

thích hợp với cảnh vĩnh hình trong hồ lửa đờiđời thể ấy.

Tóm lược.

1. Sự sống lại của người chết là điều chắcchắn vì những dẫn

chứng sau đây: Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước đều nói đến sự

sống lại; Chúa Giê-xu là “trái đầu mùa củasự sống lại” bảo đảm

cho sự sống lại của người tin. Chính Ngài làĐấng khiến mọi người

chết sống lại để chịu sự xét đoán. Sự dạy dỗ của các sứ đồ, niềm

tin của các thánh xưa nơi Đức Chúa Trời hằngsống, và vì lẽ cần

của sự công bình, sự sống lại là để người  công bình được ban

thưởng, và người ác bị đoán phạt.

47

2. Sự sống lại được diễn ra theo thứ tự: Trước hết là Đấng

Christ, kế đó là người tin và sau cùng là người ác.

3. Nói chung có hai sự sống lại: Sự sống lại của người ác trong

sự hổ nhục. Khác hẳn với sự sống lại của  người công bình trong

thân thể thuộc linh được biến hóa vinh hiển.

II. CÂU HỎI SUY GẪM VÀ ỨNG DỤNG.

1. Xin đọc những câu Kinh Thánh sau đây và tìm hiểu:

a. Sáng 22:5; Hê-bơ-rơ 11:19: Sự dâng Y-sác bày tỏ Áp-ra-ham

tin điều gì?

b. Gióp 14:14; 19:25-27: Gióp có câu hỏi gì và ông quả quyết điều gì?

c. Ê-sai 26:19; Ô-sê 13:14; Đa 12:1-3: Các tiên tri thời Cựu Ước

được Đức Chúa Trời bày tỏ gì về sự sống lại của người chết?

d. Ma-thi-ơ 22:23-33; Giăng 11:24; Công Vụ 23:6-7: Giáo lý

sống lại có ảnh hưởng thế nào trong niềm tin của người Do Thái?

e. 1Cô-rinh-tô 15:12-22; 1Tê-sa-lô-ni-ca 4:16; Sứ đồ Phao-lô xác

chứng với tín hữu thế nào về sự sống lại? Và dạy dỗ họ điều gì?

i. 2Các Vua 4:8-36; Ma-thi-ơ 9:15; 27:52-53; Lu-ca7:15; Giăng

11:43-44; Công Vụ 9:21: Sự sống lại của người chết có xảy ra

không? Như thế nào? Và có nghĩa gì đối với giáo lý về sự sống lại

của người chết trong ngày sau cùng?

h. Khải Huyền 1:17-18; Giăng 5:28-29; 11:25: Chúa Giê-xu

Christ là ai? Ngài tuyên bố điều gì?

g. Giăng 12:24-25; Có định luật nào trong cõi  thiên nhiên làm

sáng tỏ về sự sống lại không? Xin giải thích?

2. Xin tóm lược những điểm quan trọng chứng tỏ sự sống lại là

điều chắc chắn.

3. Sự sống lại xảy ra cho những ai? Theo thứ tự nào? Và khi nào?

48

– 1Cô-rinh-tô 15:23, 1Tê-sa-lô-ni-ca 4:16-17, Đa-ni-ên 12:3;

Khải Huyền 20:3-5, Khải Huyền 20:5,12-14.

4. Xin tìm hiểu tại sao sự sống lại được diễn tiến theo thứ tự như

thế? Điều nầy có nghĩa gì?

5. Xin đọc những câu Kinh Thánh sau đây và tìm hiểu:

a. 1Cô-rinh-tô 15:24-29: Hình thể của người tin khi sống lại có

gì khác so với thể chất trước kia?

b. Đa-ni-ên 12:2; 1Cô-rinh-tô 15:52: Sự sống lại của người ác

trong hình thể nào so với người công bình, tức người tin?

6. Đa-ni-ên 12:2-3; Khải Huyền 20:14-15; Giăng  5:28-29: Người

công bình và người ác sống lại nhằm mục đích gì? Điều nầy cho

chúng ta học biết Đức Chúa Trời như thế nào? (Rô 2:5-6).