Bài Học KInh Thánh Dành Cho Thiếu Nhi Quý 3(Giáo Viên) PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ năm, 22 Tháng 9 2011 01:10

MỤC LỤC.

Bài 1. SỰ CÔNG BÌNH VƯỢT TRỔI

Bài 2. LÚA MÌ VÀ CỎ LÙNG

Bài 3. HỘT CẢI VÀ MEN

Bài 4.    HÃY VÀO CỬA HẸP

Bài 5.    NHỮNG KẺ CÓ LÒNG KHÓ KHĂN

Bài 6.    NHỮNG KẺ THAN KHÓC

Bài 7.    NHỮNG KẺ NHU MÌ

Bài 8. NHỮNG KẺ ĐÓI KHÁT SỰ CÔNG BÌNH

Bài 9.    NHỮNG KẺ HAY THƯƠNG XÓT

Bài 10. NHỮNG KẺ CÓ LÒNG TRONG SẠCH

Bài 11. NHỮNG KẺ LÀM CHO NGƯỜI HÒA THUẬN

Bài 12. NHỮNG KẺ CHỊU BẮT BỚ VÌ SỰ CÔNG BÌNH

Tư liệu tham khảo


Bài 1               SỰ CÔNG BÌNH VƯỢT TRỔI.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 5:17-20; 27-28, 33-37

II. CÂU GỐC: “Ta phán cho các ngươi rằng, nếu sự công bình của các ngươi chẳng trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pharisi, thì các ngươi chắc không vào nước thiên đàng” (Mathiơ 5:20).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Chúa Giêxu dạy bảo các môn đồ phải sống vượt trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và những kẻ Pharisi, mới được vào nước thiên đàng.

- Cảm nhận: Hiểu rõ những tiêu chuẩn luận lý của Chúa Giêxu đã dạy bảo là trổi hơn chủ nghĩa luật pháp, và các tín đồ chỉ theo các tiêu chuẩn của Ngài mới có thể vào nước thiên đàng.

- Hành động: Sẵn lòng theo các tiêu chuẩn của Chúa Giêxu mà sống ra sự công bình vượt trổi.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

Khi Chúa Giêxu thi hành chức vụ ở thế gian nầy, các thầy thông giáo và người Pharisi là những nhà lãnh đạo tôn giáo Giuđa thời bấy giờ. Các thầy thông giáo là văn thư trong chính phủ vào thời kỳ Cựu ước (II Các vua 18:18), giống như Barúc đã ghi chép lại lời tiên tri, rồi sau đó đọc lại cho dân chúng nghe (Giêrêmi 36:4-18).

Đến thời kỳ Tân ước, các thầy thông giáo trở thành đối tượng để chính phủ Rôma chiêu mộ. Họ đảm nhiệm công việc luật sư và tòa chánh án, có mặt trong quốc hội, giúp chính phủ Rôma cai trị các nước thuộc địa, như nước Do thái. Quốc hội là cơ quan lập pháp và tư pháp của nước thuộc địa Giuđa, các thành viên trong quốc hội do thầy tế lễ cả, thầy tế lễ và giai cấp giàu có trong xã hội nắm giữ; và những thầy thông giáo chính là những người này. Quốc hội có thể đặt ra 1 số luật pháp trên tôn giáo hoặc những vụ việc trong nước, nhưng không có quyền phán quyết tội phạm đóng đinh trên thập tự giá (Mathiơ 27:1-2; Mác 15:1; Luca 23:1); Quyền lực này là thuộc về quan tổng đốc Rôma.

Người Pharisi thì khác thầy thông giáo. Người Pharisi trong tiếng Hêbơrơ có nghĩa là “phân biệt ra”. Họ là những người quyết tâm giữ nghiêm ngặt luật pháp Môise và lời khẩu truyền, như giữ ngày Sabát, kiêng ăn và các nghi lễ về sự thánh khiết… Vào thời Chúa Giêxu, dân Giuđa ngoài sự thờ phượng Đức Chúa Trời trong đền thờ Giêrusalem ra, còn có một số người thờ phượng Chúa tại nhà hoặc nhà hội. Họ đa số là những người Pharisi. Họ dạy mọi người về luật pháp của Đức Chúa Trời và các luật lệ truyền thống, nhưng các luật lệ này không ghi trong sách luật pháp và tiên tri.

Khi Chúa Giêxu đến, sự giải thích mới mẻ về luật pháp của Ngài đối với luật pháp Môise như một luồng gió mới. Chúa Giêxu nhắc lại ý nghĩa thật sự của luật pháp Đức Chúa Trời, chỉ ra luật pháp của Đức Chúa Trời là sự quan tâm và yêu thương, chứ không phải là trừng phạt. Sự yêu thương này được thể hiện rõ ràng qua Chúa Giêxu. Sự diễn giải về luật pháp của Chúa Giêxu đã thức tỉnh tâm linh của một số người Do thái. Đây không phải là điều mà người Pharisi và thầy thông giáo có thể mang lại cho họ.

Đối với các thầy thông giáo đầy uy quyền về luật pháp thời bấy giờ mà nói, sự xuất hiện của Chúa Giêxu trực tiếp đe dọa đến địa vị của họ. Còn đối với người Pharisi, họ không thể chấp nhận lời nói và việc làm của Ngài, vì cho rằng Ngài không vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời. Cho nên, các thầy tế lễ và người Pharisi luôn bắt bẻ, lên án và cuối cùng lập mưu bắt Chúa và đóng đinh Ngài trên thập tự giá.

Phân đoạn Kinh Thánh chủ yếu của bài này là Mathiơ 5:17-20, là một trong những bài giảng trên núi của Chúa Giêxu. Phân đoạn Kinh Thánh này rõ ràng là nhắm vào thầy thông giáo và người Pharisi. Đối với người Pharisi, những việc như: Chúa chữa bệnh trong ngày Sabát (Mathiơ 12:9-13), các môn đồ bứt bông lúa ăn trong ngày Sabát (Mathiơ 12:1-2), Chúa Giêxu cùng ngồi ăn với những người thâu thuế đều là không vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời (Mathiơ 9:10-13). Nhưng đối với Chúa Giêxu, những điều này không phải là chân lý của luật pháp. Ý nghĩa thật sự của luật pháp là yêu thương, cũng như Chúa Giêxu yêu thương những người có tội, mong muốn họ ăn năn. Chúa Giêxu thương xót những bệnh nhân đang chịu đau khổ về bệnh tật, nên chữa lành bệnh cho họ.

Chúa Giêxu đối mặt với sự chỉ trích của các thầy thông giáo và người Pharisi từ lần này đến lần khác. Chúa Giêxu nhấn mạnh Ngài không phá bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng phá bỏ những nguyên tắc truyền thống của con người đặt ra. Luật pháp dù một chấm một nét đều không được phế bỏ. Đây là thái độ của Chúa Giêxu đối với luật pháp. Thực ra là Ngài cũng đang nói, người Pharisi và thầy thông giáo đang dạy dỗ các luật pháp không thuần chính. Nếu chỉ nhờ vào việc tuân theo luật pháp như các thầy thông giáo và người Pharisi đã giảng dạy, thì không thể vào nước thiên đàng (Mathiơ 5:20).

Luật pháp mà các thầy thông giáo và người Pharisi giải thích là cứng nhắc, chỉ câu nệ về hình thức bên ngoài. Nó nhấn mạnh phải cấm và trừng phạt những kẻ không vâng giữ luật pháp, nhưng lại bỏ qua sự yêu thương. Vào những năm trước khi Chúa Giêxu giáng sinh, các thầy thông giáo và người Pharisi đã định sẵn không ít các điều lệ của luật pháp khẩu truyền, sau đó thu thập và biên soạn thành 2 tác phẩm gọi là “Talmad” và “Mishnah”. Vì những chi tiết cứng ngắt nên một số câu hỏi được đặt ra. Ví du: Một người vào ngày Sabát dọn một cây đèn đến nơi khác được không? Một thợ may đi ra ngoài mang theo một cây kim để ở trong áo, ông ta có bị cho là vi phạm luật pháp không? Hoặc vào ngày Sabát, ẵm một đứa trẻ được không? Hoặc viết cái gì đó vào ngày Sabát cho là đã làm việc. Nhưng làm thế nào mới là viết? Các thầy tế lễ định nghĩa cho việc viết là: “Phàm dùng tay phải hay tay trái viết bất kỳ 2 chữ cái nào, hoặc dùng mực khác nhau viết chữ khác nhau là đã phạm tội”. Còn việc chữa bệnh vào ngày Sabát có cho là đang làm việc không? Họ lại định nghĩa cho việc chữa bệnh như sau: “Những bệnh tật nguy hiểm đến tính mạng là có thể chữa trị, nhưng bác sĩ chỉ có thể giảm nhẹ sự đau đớn của bệnh nhân, để bệnh tình không phát triển, chứ không được chữa khỏi bệnh đó trong ngày Sabát”.

Từ những ví dụ trên đây, chúng ta có thể thấy các quy tắc của các thầy thông giáo và người Pharisi định ra có không ít vấn đề. Ngược lại, những giải thích về luật pháp của tình yêu của Đức Chúa Trời đối với con người, và sự yêu cầu công bình của luật pháp không những nhằm vào hành vi của con người, còn nhắm vào nội tâm của con người nữa.

Trong Mathiơ 5:27-28; 33-37, sự giảng giải về luật pháp của Chúa Giêxu vượt trổi hơn rất nhiều. Chúa Giêxu lấy tội tà dâm làm ví dụ, “Chớ phạm tội tà dâm”, là điều răn thứ 7 trong 10 điều răn của Đức Chúa Trời. Lêvi ký chép rất rõ nam nữ phạm tội tà dâm đều phải bị xử tội chết. Nhưng điều răn này chỉ có thể nhắm vào những ai có hành vi phạm phải tội này, còn Chúa Giêxu chỉ ra ai động tình ham muốn cũng là đã phạm tội tà dâm rồi. Ở đây, chúng ta có thể thấy được sự công bình của Đức Chúa Giêxu là trổi hơn hẳn. Chuẩn mực của Ngài là chuẩn mực của Đức Chúa Trời, chứ không phải là chuẩn mực của con người, bởi vì chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể hiểu thấu lòng con người.

Ngoài ra, Chúa Giêxu còn phán: “Đừng thề chi hết”. Chúng ta nên đặt câu hỏi: “Vì sao một người phải thề thốt?” Vì người đó muốn tỏ ra lời nói mình đáng tin cậy. Nếu phải thề thốt mới có thể khiến người ta tin lời nói của mình, thì lời nói đó có phải có chút vấn đề, đúng không? Chúa Giêxu khuyên chúng ta nếu phải thì nói “phải”, còn không thì nói “không”, chứ đừng thề thốt. Sự yêu cầu về công bình của Ngài là vượt trổi hơn quy tắc của thế gian.

Mục đích của bài này là để các em hiểu rõ sự công bình mà Chúa Giêxu dạy vượt trổi hơn những gì mà người Pharisi đã dạy, đồng thời để các em sẵn lòng làm theo sự dạy dỗ của Chúa Giêxu, và trong đời sống thể hiện sự công bình vượt trổi này.

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

Giáo viên vẽ 9 điểm tròn trên bảng, sau đó mời các em chia nhóm suy nghĩ xem, làm thế nào nối 9 điểm tròn lại chỉ bằng 1 nét (không được đổi hướng). Em có mấy cách để thực hiện điều nầy?

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Vào đề.

Giáo viên hỏi các em trong quá trình chơi, đã nghĩ ra bao nhiêu cách? Có phương cách nào càng nghĩ càng rời xa yêu cầu của trò chơi không? Tiếp theo, giáo viên nói ra mỗi trò chơi đều có sự hạn chế, người chơi phải làm thế nào đạt được yêu cầu mà không phạm quy. Thường thường, mấu chốt thành công là ở chỗ hiểu rõ mục đích, và sự hạn chế của trò chơi. Nếu người tham gia hiểu sai yêu cầu, hoặc phương cách của trò chơi thì sẽ không thể hoàn thành được.

Hôm nay, các em sẽ biết giữa người Pharisi, thầy thông giáo và Chúa Giêxu có cái nhìn khác nhau về luật pháp. Những người Pharisi và thầy thông giáo cố gắng chấp hành luật pháp một cách cứng ngắt, nhưng Chúa Giêxu đã chỉ ra họ không hiểu tinh thần của luật pháp. Họ có vẻ như đang giữ luật pháp nhưng thật ra đã rời xa nó.

2. Bài học.

a. Sự công bình của thầy thông giáo và người Pharisi.

Hướng dẫn các em mở ra Mathiơ 5:17-20, cùng nhau đọc một lần. Tiếp đến, cho các em mở ra bài tập phần 1 sách học viên. Giáo viên giải thích sơ lược bối cảnh của phân đoạn Kinh Thánh, sau đó mời các em tìm ra lời của Chúa Giêxu đã nói.

Giáo viên chia sẻ, người Pharisi, thầy thông giáo và Chúa Giêxu có cái nhìn khác nhau trong vấn đề luật pháp. Bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu về điều nầy nhé!

(Kịch nói sau đây dựa theo tư liệu bên ngoài Kinh Thánh mà biên soạn. Giáo viên có thể giao trước cho vài em phụ trách vai diễn).

(A và B là người Do thái. Họ cùng nghe giảng trong nhà hội vào ngày Sabát).

- Thầy thông giáo: Thưa quý vị, hãy lắng nghe điều răn thứ 4 trong 10 điều răn mà Đức Chúa Trời đã ban bố: “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong 6 ngày, nhưng ngày thứ 7 là ngày nghỉ của Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi”.

- A, B: Amen, amen!

- Thầy thông giáo: Các ngươi hãy nhớ lấy, vào ngày Sabát, bất cứ việc gì cũng không được làm. Nếu không sẽ vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời. Vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời là việc rất nghiêm trọng. Ngài nhất định sẽ trừng phạt các ngươi.

- A: Thưa thầy, có phải là bất cứ việc gì cũng không được làm không? Nấu cơm, tắm rửa cũng không được sao?

- Thầy thông giáo: Cơm có thể nấu ngày hôm trước. Tắm có thể vào ngày hôm sau. Tóm lại, vào ngày Sabát, bất cứ việc gì cũng không được làm. Còn câu hỏi nào nữa không? Nếu không có thì kết thúc ở đây.

(A, B  từ nhà hội bước ra, nhỏ to với nhau).

- A: Tôi là nông dân. Vào ngày Sabát lần trước, con chiên nhà tôi rơi xuống vực. Chúng tôi phải cần đến mấy hộ gia đình hợp sức lại mới có thể kéo nó lên được. Như vậy có vi phạm điều răn của Chúa không? Nếu đã vi phạm rồi thì làm sao đây?

- B: Tôi là bác sĩ. Nếu có người bị bệnh vào ngày Sabát, chẳng lẽ tôi không chữa cho người đó sao? Nếu tôi chữa cho người đó, vậy thì chẳng phải tôi đã vi phạm điều răn của ngày Sabát sao? Còn nếu không chữa cho họ, nếu lỡ người đó chết thì có phải tôi đã phạm vào điều răn thứ 6 “chớ giết người” không?

- A: Vậy thì phải làm thế nào đây? (Ra vẻ suy nghĩ). Hay là chúng ta đến tìm thầy thông giáo để hỏi.

- B: Sau khi thầy thông giáo giảng giải rồi, chúng ta có bị hạn chế không? Tôi e rằng sẽ khó cho chúng ta.

- A: Trong vòng dân Giuđa, thầy thông giáo là lớn nhất. Họ có quyền giảng giải về luật pháp mà.

- B: Anh nói cũng có lý. Nếu vậy chúng ta cùng đến tìm thầy thông giáo thôi (hai người cùng đi vòng vòng, rồi ngồi xuống đất chờ nghe sự giảng giải của thầy thông giáo. Thầy thông giáo bước ra).

- Thầy thông giáo: Bây giờ ta giải thích luật nội dung chi tiết của điều răn thứ 4: “Hãy giữ lấy ngày Sabát”. Điều nầy có nghĩa là bất cứ việc gì cũng không được làm trong ngày nầy. Những công việc không được bao gồm các sinh hoạt hằng ngày như: Nấu cơm, tắm rửa, giặt quần áo. Một số công việc đặc biệt cấp bách thì có thể làm, nhưng phải hết sức hạn chế.

- B: Thưa thầy, tôi là bác sĩ. Trong ngày Sabát, nếu lỡ có bệnh nhân cấp cứu thì tôi phải làm sao?

- Thầy thông giáo (suy nghĩ một chút): Nếu vậy thì anh cố giữ mạng sống người đó, đợi qua ngày Sabát mới chữa trị vậy.

- A: Thưa thầy, nếu con chiên nhà tôi rơi xuống vực, tôi có nên cứu nó ngay, hay là phải đợi qua ngày thứ 2 mới cứu? Nếu đợi đến ngày thứ 2 thì có thể nó sẽ chết mất.

- Thầy thông giáo (suy nghĩ một chút): Vậy thì phải cứu nó ngay chứ!

 - A: Thưa thầy, xin cho hỏi thêm là viết đơn thuốc có phải là đã làm việc trong ngày Sabát không?

- Thầy thông giáo (lại suy nghĩ): Viết hơn 2 từ là đã làm việc rồi!

- A: Nhưng có một số bệnh phải viết nhiều toa thuốc.

- Thầy thông giáo: Vậy viết ở trang khác là được rồi, miễn là không được viết nhiều hơn 2 từ trên cùng 1 trang giấy. Chấm dứt ở đây nhé!

(Tất cả đi vào).

b. Câu hỏi thảo luận.

(Giáo viên có thể hỏi trực tiếp để các em trả lời).

(1) Căn cứ vào điều răn thứ 4 trong 10 điều răn, người Do thái không được làm việc vào ngày thứ mấy trong tuần? (Ngày thứ bảy).

(2). Ngày thứ bảy được gọi là ngày gì? (Ngày Sabát).

(3). Em cho rằng vì sao Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm việc trong 6 ngày, còn ngày thứ 7 phải nghỉ ngơi? (Luật pháp được lập ra vì lợi ích của con người. Ý nghĩa thật sự của ngày Sabát là muốn cho con người có thời gian nghỉ ngơi và thờ phượng Đức Chúa Trời).

(4). Vào thời bấy giờ, ai có quyền giảng giải luật pháp cho dân sự? (Thầy thông giáo).

c. Câu hỏi suy gẫm.

(Chia các em làm nhiều nhóm (mỗi nhóm từ 3-4 em), thảo luận các câu hỏi sau. Sau đó mời một em đại diện nhóm lên báo cáo lại).

(1). Vì sao thầy thông giáo đề ra nhiều quy tắc chi tiết cho luật pháp như vậy? Ví dụ vào ngày Sabát có thể cứu bệnh nhân, nhưng đừng hết lòng cứu chữa mà chỉ giữ mạng sống chờ qua ngày Sabát mới chữa, không được viết nhiều hơn 2 từ trên cùng 1 trang giấy... (Vì họ không hiểu ý nghĩa thật sự của luật pháp mà Đức Chúa Trời ban cho. Họ hiểu và vâng giữ luật pháp một cách cứng ngắt, vâng giữ từng chi tiết nhỏ nhưng lại bỏ qua điều lớn hơn, đó là tình yêu thương).

(2). Em cho rằng các quy tắc chi tiết về luật pháp của thầy thông giáo lập ra có hợp lý không? Giữa chúng có sự mâu thuẫn gì không? Nêu ví dụ nói rõ.

(3). Theo em, việc áp dụng luật pháp vào đời sống như thầy thông giáo đã giảng giải, có đúng theo ý nghĩa thật của luật pháp mà Chúa ban bố không? (Không. Ví dụ ngày Sabát là ngày Đức Chúa Trời muốn cho con người có cơ hội nghỉ ngơi, và Ngài ban ngày nầy là vì tình yêu của Ngài giành cho con người, nhưng người Pharisi lại không cho phép cứu chữa bệnh trong ngày Sabát).

d. Sự công bình của Chúa Giêxu.

Tiếp đến, giáo viên cho các em nhận biết sự công bình vượt trổi hơn mà Chúa Giêxu đã nói. Hướng dẫn các em đọc Mathiơ 5:27-28; 33-37, sau đó chia các em làm 2 nhóm, mỗi nhóm thảo luận một phân đoạn Kinh Thánh (trang tư liệu 2), và cử đại diện báo cáo.

3. Ứng dụng.

a. Cho các em thực hiện bài tập phần 4 trong sách học viên, hướng dẫn các em áp dụng sự dạy dỗ của bài học hôm nay vào phần trả lời.

b. Cho các em đọc câu gốc và cầu nguyện kết thúc.


Bài 2.                     LÚA MÌ VÀ CỎ LÙNG.

 

I. KINHTHÁNH: Mathiơ 13:24-30, 36-43.

II. CÂU GỐC: “Vì Ngài đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, bởi Người Ngài đã lập, và Đức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ” (Công vụ 17:31).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Qua ví dụ nầy, Chúa Giêxu cho chúng ta biết, trước khi nước thiên đàng chưa hoàn toàn trọn vẹn, điều tốt và điều xấu vẫn lẫn lộn trong thế giới nầy, cho đến ngày Đức Chúa Trời sẽ phân chia tốt xấu một cách rõ ràng.

- Cảm nhận:  Tốt và xấu luôn tồn tại trong thế giới nầy.

- Hành động: Hết lòng nhờ cậy Chúa, giữ tấm lòng trông đợi nhịn nhục cho đến ngày Chúa đến. 

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

Mathiơ 13:24-30, 36-43 là ví dụ về lúa mì và cỏ lùng và lời giải thích về ví dụ của Chúa Giêxu. Phân đoạn Kinh Thánh bài này chỉ là một trong số các ví dụ trong Mathiơ đoạn 13. Thật ra, cả đoạn này đều là những ví dụ do Chúa Giêxu kể, và ví dụ về lúa mì và cỏ lùng là ví dụ thứ hai, ví dụ trước là ví dụ về người gieo giống.

Chúa Giêxu dùng những hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày để chuyển tải những điều Ngài muốn dạy dỗ. Bánh mì là lương thực chính của người Do thái, vì thế, trồng lúa mì là ngành nông nghiệp chính yếu ở đó. Chúa Giêxu kể rằng, có một người đã gieo giống tốt trong ruộng mình, nhưng khi đêm xuống, có kẻ thù gieo cỏ lùng vào ruộng lúa mì. Loại cỏ lùng này có khả năng là lúa mì giả, là 1 loại thực vật thường gặp tại Trung Đông. Hạt giống của nó rất giống với mầm non mới nở của lúa mì (cho nên dân Giuđa gọi nó là “lúa mì giả” hoặc “lúa độc”). Khi loại lúa mì giả nầy trổ bông, thì mới lộ sự khác biệt. Hạt cỏ lùng có chứa độc tính, nếu ai ăn phải sẽ cảm thấy chóng mặt, và toàn tê liệt. Trong luật pháp của đế quốc Lamã cũng có hình phạt hẳn hoi dành cho kẻ cố tình gieo cỏ lùng vào ruộng của người khác.

Kẻ xấu thừa lúc đêm khuya đến gieo cỏ lùng, chứng tỏ đây là hành vi bất hợp pháp. Tuy cỏ lùng phải đến khi trổ bông mới có thể nhận ra, nhưng đầy tớ của chủ ruộng nhanh chóng biết được trong ruộng có cỏ lùng, và nói đềiu nầy với chủ ruộng. Người chủ cũng biết đây là hành động của kẻ thù, và ông không tán thành lời đề nghị của đầy tớ là phải nhổ bỏ cỏ lùng. Chắc người chủ ruộng hiểu rõ cỏ lùng khác với cỏ dại bình thường, rễ của nó sẽ quấn lấy rễ của lúa mì. Vì thế, nếu nhổ cỏ lùng thì sẽ ảnh hưởng đến lúa mì. Cho nên, chủ ruộng chỉ còn cách là để lúa mì và cỏ lùng cùng sinh trưởng trong ruộng, đợi đến khi thu hoạch thì mới phân cỏ lùng ra, bó lại rồi đem đi đốt, còn lúa mì thì cất vào kho.

Ví dụ này có ý nghĩa gì? Trong câu 36-45, Chúa Giêxu giải thích nội dung của ví dụ này: Người gieo giống tốt chính là Con Người (Chúa Giêxu), ruộng chỉ về thế gian, hạt giống tốt chính là con cái Đức Chúa Trời, cỏ lùng chính là con cái của ma quỷ, kẻ gieo cỏ lùng là ma qủy, mùa gặt là ngày cuối cùng, người gặt là thiên sứ.

Thông điệp của ví dụ là người tốt và kẻ xấu, điều thiện và điều ác cùng tồn tại trong thế gian này. Chúng ta phải hiểu rõ thực trạng này. Tuy tội ác không ngừng ảnh hưởng đến chúng ta, nhưng chúng ta vẫn không thể lấy sức mạnh của mình để diệt trừ tội ác, Đức Chúa Trời dường như cũng chưa làm gì cả, cho đến ngày của Chúa. Vậy, trong lúc chờ đợi, con cái của Chúa phải lấy thái độ nào để đối mặt với thế gian này? Đó chính là phải kiên nhẫn chờ đợi. Khi ngày tận thế đến, con cái Đức Chúa Trời và con cái của thế gian mờ tối nầy sẽ được phân ra, và rõ ràng, con cái của ma qủy sẽ bị quăng vào lò lửa, và con cái Đức Chúa Trời được vào nước thiên đàng. Trong ví dụ này, chúng ta học được những sự dạy dỗ sau:

1. Trong thế giới này hoặc thậm chí trong Hội Thánh, vẫn tồn tại “cỏ lùng” mà đôi khi chúng ta khó phát hiện ra.

2. Khi chúng ta thấy trên thế giới nầy tồn tại rất nhiều điều không công bằng, bất công, kẻ ác gặp may mắn, giàu có và thịnh vượng, còn người ngay thẳng thường gặp tai hoạ, thì cũng phải giữ lòng kiên nhẫn, đừng mất niềm tin. Nên biết rằng, sẽ có một ngày, Đức Chúa Trời sẽ phán xét.

3. Thiện và ác cùng tồn tại là sự thật. Tuy nhiên, chúng ta không có quyền xét đoán trước khi ngày Chúa đến. Quyền phán xét thuộc về Đức Chúa Trời, và Ngài có thời điểm của Ngài.

Mục đích của bài học này rất đơn giản. Trong phần thảo luận, giáo viên nhấn mạnh Chúa có thời gian của Chúa, và Ngài đang nắm giữ thế giới. Vì thế, thái độ của chúng ta là phải kiên nhẫn chờ đợi và không đánh mất đi niềm tin nơi Đức Chúa Trời. Đây là thái độ căn bản nhất. Tuy nhiên, nhẫn nại không phải là thái độ thụ động, tiêu cực, hay là bao che tội ác, mà là bày tỏ niềm tin cậy vào sự công bình của Đức Chúa Trời.

Trong ví dụ về “bốn loại đất”, hạt giống được gieo vào 4 loại đất khác nhau, trong đó có 3 loại đất xấu. Hạt giống rơi vào đất xấu không thể kết trái được, chỉ có hạt giống gieo nơi đất tốt mới có thể kết nhiều trái. Lòng chúng ta đựơc ví sánh như là đất, Chúa Giêxu khích lệ chúng ta phải là một mảnh đất tốt, để đạo của Chúa được kết trái.  Trong thế giới tốt xấu cùng tồn tại, chúng ta phải cố gắng để bản thân trở thành mảnh đất tốt, đừng để cái xấu chiếm hữu hoặc ảnh hưởng trên chúng ta. Như đã nói ở trên, kiên nhẫn chờ đợi không phải là bị động, ngược lại có ý nghĩa tích cực. Trước tiên, chúng ta nhẫn nại là vì chúng ta tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời, sự tin cậy vâng phục này chính là biểu hiện của điều tốt. Cho nên, khi chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời, thì điều tốt được tỏ ra. Ngoài ra, chúng ta nên khuyến khích những người chung quanh làm điều tốt, để thế lực của điều tốt mạnh hơn điều xấu, cái tốt được tỏ ra.

Về việc ứng dụng bài học trong đời sống, khích lệ các em khi đối diện với những điều thuộc về thế gian nầy, cần phải tìm thái độ thích hợp để phát huy. Sau đó nhờ cậy Đức Chúa Trời, có thể lấy cái tốt thắng cái xấu, và học cách kiên nhẫn tin cậy Đức Chúa Trời. 

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

* Đậu đỏ, đậu xanh.

1. Chuẩn bị: Trước 1 tuần hoặc 10 ngày, giáo viên trộn một nắm đậu xanh và đậu đỏ và thả vào cái thau có bông gòn và nước. Giáo viên cho các em biết đậu đỏ tượng trưng cho “cỏ lùng”, đậu xanh tượng trưng cho “lúa mì”. Đậu đỏ sau khi nảy mầm, hạt đậu teo lại sẽ dính liền với rễ, còn đậu xanh sau khi nảy mầm, rễ sẽ từ vỏ nở ra và treo ở giữa cây mầm. Như vậy có thể phân biệt được đâu là đậu xanh và đậu đỏ.

2. Thực hiện: Cho các em xem hai cây mầm, hỏi các em có phân biệt được cây nào là đậu xanh, cây nào là đậu đỏ không? Nói cho các em biết cách phân biệt, sau đó hỏi các em có thể tách hai  loại đậu này ra không. Rễ của cây mầm đậu xanh không tản ra, rất dễ nhổ, nhưng rễ của cây mầm đậu đỏ thì tản ra, nên khi nhổ sẽ động luôn những cây mầm khác. Hơn nữa, cả 2 loại cây mầm đậu này nếu nhổ sẽ bị tổn thương phần rễ, khiến cho cây mầm không thể sinh trưởng tiếp được.

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Vào đề.

Các em vừa xem thí nghiệm về sự nẩy mầm của đậu xanh và đậu đỏ. Chúa Giêxu lúc còn ở thế gian cũng đã kể một ví dụ có ý nghĩa tương tự như thí nghiệm vừa rồi, nhưng hình ảnh trong ví dụ của Ngài là cây lúa mì và cỏ lùng. Lúa mì là cây thực vật hữu ích, trong khi đó cỏ lùng là cây thực vật vô dụng. Chúng ta cùng xem ví dụ này có ý nghĩa gì nhé!

2. Bài học.

* Lúa mì và cỏ lùng.

Hướng dẫn các em mở Mathiơ 13:24-30 và đọc phân đoạn nầy, và cho các em giải thích ý nghĩa của ví dụ này (tạm không cho đáp án). Sau đó, giáo viên vẽ mẫu liệt kê bài tập 2 phần 1 (sách học viên) lên bảng, rồi cùng các em đọc câu 36-43. Đọc xong, giáo viên cùng các em hoàn thành mẫu liệt kê của bài tập phần 1, và điền vào ô trống của bài tập phần 2: “So sánh giữa tốt và xấu”. Trong lúc thảo luận nên cho các em biết, nhiều lúc cái tốt và cái xấu có thể xuất hiện trong cùng một tình huống (tham khảo “Giáo viên suy gẫm).

3. Ứng dụng.

a. Sáu thái độ thường thấy.

Khi đối mặt với tình huống tốt xấu lẫn lộn, như đám ruộng vừa có lúa mì lẫn cỏ lùng, thì người ta có thể sẽ làm gì? Cho các em làm bài tập phần 3, chọn thái độ em thường làm.

Giáo viên chia sẻ: Đây là 6 cách mà người ta thường có khi đối diện với cái xấu. Loại thái độ từ 1-3 là thái độ tiêu cực, biểu hiện không có đức tin nơi Đức Chúa Trời. Thái độ thứ 4 và thứ 6 là tích cực, chỉ tiếc là thái độ này thể hiện đã quên quyền tể trị của Đức Chúa Trời.  Một người khi đối diện với cái xấu, đức tin của người đó đối với Đức Chúa Trời sẽ ảnh hưởng đến thái độ của họ. Thái độ thứ 5 là thái độ tích cực (nhẫn nại không phải là tiêu cực), thể hiện đức tin nơi Đức Chúa Trời.  

b. Lấy tốt thắng xấu: Tiếp đến cho các em hoàn thành bài tập phần 4, học làm thế nào có niềm tin nơi Đức Chúa Trời.

c. Đọc câu gốc và cầu nguyện: Cùng đọc câu gốc và kết thúc bằng sự cầu nguyện.

 

 


Bài 3.                    HỘT CẢI VÀ MEN.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 13:31-33.

II. CÂU GỐC: “Nước Đức Chúa Trời không đến cách rõ ràng, và người ta sẽ không nói: Ở đây, hay là: Ở đó; vì nầy, nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi” (Luca 17:20b-21).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Chúa Giêxu dùng hình ảnh hạt cải và bột men để mô tả về Nước thiên đàng. 

- Cảm nhận: Nước thiên đàng khi bắt đầu dường như nhỏ bé, nhưng về sau sẽ có sức ảnh hưởng rất lớn.

- Hành động: Sẵn lòng phát huy sức ảnh hưởng của công dân Nước trời trong Hội Thánh, nơi trường học và hàng xóm của em.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM. 

Chúa Giêxu bắt đầu sự giảng dạy của Ngài với sứ điệp “Nước thiên đàng đã đến gần”. Nước thiên đàng thật ra chính là “Tin lành của Đức Chúa Trời”, là Đấng Christ. Con người có được vào nước thiên đàng hay không, chẳng phải nhờ vào việc vâng giữ luật pháp, nhưng nhờ vào việc tin nơi Chúa Giêxu. Bởi thế, khi Chúa Giêxu giảng Tin lành, Ngài dùng ví dụ để giải thích về Nước thiên đàng, và Ngài đặc biệt đã dùng “Nước thiên đàng… giống như” để miêu tả ví dụ. Mỗi ví dụ của Chúa Giêxu chuyển tải một ý nghĩa đặc biệt.

1. Nước thiên đàng giống như một hạt cải.

Khi Chúa Giêxu kể ví dụ này, có thể trong tay Ngài cầm một hạt cải để làm thị cụ. Điều Ngài muốn nói không phải là so sánh hột cải với các loại hột khác, hoặc miêu tả kích thước của nó. Trên thực tế, hạt cải không phải là nhỏ nhất trong các loại hạt mà chúng ta biết. Nhưng sau khi được gieo xuống, hạt đâm chồi và lớn lên thành cây, đến nỗi chim trời có thể đậu trên cành của nó. Kinh Thánh Cựu ước từng dùng hình ảnh “cây cao” (Êxêchiên 17:23; Đaniên 4:10-12), để ví von những nước lớn. Ý nghĩa chủ yếu của ví dụ này là nói về Nước thiên đàng có thể bắt đầu rất nhỏ bé, không gây ấn tượng, nhưng sẽ có sức ảnh hưởng mạnh mẽ vô biên qua đời sống của con cái Đức Chúa Trời.

2. Ví dụ về men.

Chúa Giêxu lại dùng những cái rất đỗi quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày để minh hoạ cho sự dạy dỗ của Ngài. Lúc bấy giờ, người Do thái thường làm bánh và nướng tại nhà. Bột men chính là một cục bột nhỏ đã lên men, cục bột nầy là bột được để lại từ lần nướng bánh trước. “Men” trong Kinh Thánh, luôn tượng trưng cho điều xấu xa gian ác hoặc ô uế, bất khiết. Tuy nhiên ở đây, men biểu trưng cho sự phát triển và tăng trưởng. Một chút men làm dậy cả đống bột như thế nào, thì Nước thiên đàng cũng phát triển qua đời sống của một người tin Chúa y như vậy. Hoặc hình ảnh nầy cũng có thể chỉ về sự phát triển của Nước thiên đàng do sự vận hành từ bên trong của Đức Thánh Linh.

Cả hai ví dụ trên đều có chung một ý nghĩa, tức Nước thiên đàng lúc triển khai là nhỏ bé, nhưng đến cuối cùng sẽ phát triển rộng rãi quyền năng hoặc quyền cai trị của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, những người nghe giảng lúc bấy giờ có thể sẽ không tin, bởi vì họ nóng lòng muốn nhìn thấy sự vinh hiển của nước Đức Chúa Trời, qua cách Ngài tiêu diệt triệt để kẻ thù là đế quốc Lamã và gây dựng lại nước Ysơraên. Vậy thì hai ví dụ này có ý nghĩa gì đối với các tín đồ lúc bấy giờ và chúng ta ngày hôm nay?

* Sự sống Nước thiên đàng.

Nước thiên đàng biểu hiện quyền năng cai trị của Đức Chúa Trời,  và con cái Ngài là những người được cai trị trong Nước thiên đàng. Vì thế, một trong các bản chất của Nước thiên đàng là liên quan đến đời sống mới qua sự tái sinh của một người. Một hạt cải nhỏ bé, dường như không có giá trị, nhưng lại có sự sống bên trong và phát triển lớn mạnh, có ảnh hưởng nhất định đến môi trường sống chung quanh. Một người đi theo Chúa cũng vậy, có thể sự hiện diện của chúng ta trên thế gian nầy là nhỏ bé, nhưng điều quan trọng là sức sống mới của Chúa trong chúng ta phải tràn ngập trong lòng và gây hưởng đến người khác.  

* Đời sống tăng trưởng.

Hạt cải cũng như bột men, khi hạt cải được gieo xuống đất, men được trộn vào bột mì, thì sự sống đã bắt đầu tăng trưởng và tăng trưởng không ngừng. Khi sự sống mới bắt đầu gieo vào trong lòng của một người ăn năn tiếp nhận Chúa Giêxu, thì sự sống đó bắt đầu tăng trưởng. Chúng ta cần để Đức Thánh Linh tự do hành động trong đời sống, hầu cho sự sống ấy phát huy hết công dụng như hạt giống hoặc bột men vậy.

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

Cho các em hoàn thành bài tập phần 1 “Mưa dầm thấm lâu”. Mục đích của hoạt động nầy là cho các em biết mua nhà trả góp ngoài trả vốn gốc ra, còn phải trả lãi, và tiền lãi tích góp theo thời gian rất lớn. Đôi khi trong đời sống, có một số thứ nhìn vào như là nhỏ bé không đáng kể, nhưng sau này lại có thể ảnh hưởng sâu xa.

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Bài học.

Cho các em mở Kinh Thánh Mathiơ 13:31-33 đọc một lần. Sau đó, giáo viên nói: “Khi Chúa Giêxu truyền giảng Tin lành, Ngài thường giải thích về Nước thiên đàng, và đặc biệt đã dùng cụm từ “Nước thiên đàng giống như…” để mở đầu lời giải thích của Ngài. Chúng ta biết ví dụ truyền đạt một ý hoặc nêu rõ một trọng tâm nào đó. Bài học hôm nay có hai ví dụ, chúng ta cần phải tìm ra ý nghĩa của ví dụ mà Chúa Giêxu kể. Các em cùng mở bài tập phần 2 và hoàn thành bài tập nầy, thì các em sẽ hiểu ý nghĩa mà Chúa Giêxu muốn nói.

2. Ứng dụng.

a. Mỗi tín đồ giống như hạt cải hoặc một khối bột men nhỏ, tuy nhiên lại có sức sống vô biên, có thể ảnh hưởng đến những người chung quanh. Các em sẽ đặt mình ở nơi đâu để tăng trưởng? 

Giáo viên cho các em hoàn thành bài tập phần 3 “Sinh trưởng tại đâu?”, khích lệ các em mở rộng Nước thiên đàng, quyết tâm ở lĩnh vực nào đó phát huy sức ảnh hưởng của con dân Nước thiên đàng trên đất nầy.

b. Câu gốc và cầu nguyện: Cho các em cùng đọc câu gốc, và cầu nguyện kết thúc.

* Đáp án tham khảo bài tập phần 2.

Đặc chất của các vật trong ví dụ là gì?

Dân chúng lúc bấy giờ nghĩ đến điều gì?

Chủ đích của ví dụ là gì?

Hạt cải

1. Hạt giống vốn nhỏ bé.

2. Sau khi lớn lên lại cao to, trở thành cây. 

3. Chim trời có thể ở trên đó.

- Sự cai trị của Đức Chúa Trời lập tức được thực hiện, chứ không phải chờ đợi. Họ không muốn bị cai trị bởi đế quốc Lamã. 

- Nước thiên đàng giống như hạt cải nhỏ bé, lúc bắt đầu có vẻ như âm thầm, hoặc thấy kết quả gì,   nhưng thực chất là nó đang tăng trưởng, có sức sống mãnh liệt bên trong, và cuối cùng thì phát triển rộng khắp, ảnh hưởng đến cả thế giới.

Bột men

1. Bột men để làm bánh.

2. Giúp bánh mì nổi.

3. Một cục men nhỏ trộn trong 3 kg bột.

4. Cả khối bột dậy lên

Như trên

- Như trên.

 


Bài 4.                           HÃY VÀO CỬA HẸP.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 7:13-14; Luca 14:25-33.

II. CÂU GỐC: Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít” (Mathiơ 7:13-14).

 III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Sự dễ dàng của đường rộng và sự khó khăn của đường hẹp, và đích đến khác nhau của mỗi con đường.

- Cảm nhận: Một người đi theo Chúa Giêxu phải trả giá để được vào Nước thiên đàng.

- Hành động: Sẵn lòng hạ quyết tâm làm môn đồ của Đức Chúa Giêxu.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

Nếu như có hai cánh cửa, một cái là cửa hẹp, một cái là cửa rộng, bạn sẽ chọn đi vào bằng cửa nào? Chúng ta thường có xu hướng chọn đi vào cánh cửa rộng, vì con đường nay dễ đi. Hoặc cũng có người nói, đi vào cửa nào cũng được, điều quan trọng nhất là cửa nào có thể đi đến đích, hoặc nơi mình muốn đến. Cách nhìn như vậy là đúng, vì con người trước khi chọn đi vào một cánh cửa nào đó, cần phải biết mình nên đi đến đâu.

Có thể nói Mathiơ 7:13-14 là tổng kết bài giảng trên núi của Chúa Giêxu sau khi Ngài nói hết các đặc chất nên có của một môn đồ. Nếu một người thật lòng muốn đi theo Chúa, thì phải đưa ra sự chọn lựa hướng đi của cuộc đời mình. Cái “cửa” mà phân đoạn Kinh thánh nầy đề cập có hàm ý nói về “cửa thành” hay “một cánh cửa nối liền với đường đi”. Khi ai đó đi qua, có thể men theo con đường đi đến nơi mình muốn đến. Chúa Giêxu dùng hình ảnh “cửa hẹp” và “cửa rộng” để ví sánh điểm khởi đầu của đời sống một người theo Chúa. Có thể nói đây là “ngã ba” đường mà một người tín đồ phải quyết định phải chọn cánh cửa nào. Chúa Giêxu phán rất rõ ràng: “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều.  Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít”.

Chúa Giêxu đưa ra một sự thử thách yêu cầu tín đồ phải suy nghĩ kỹ càng, nếu ai theo Ngài thì phải chịu khổ, thậm chí phải hy sinh và trả giá.

Chúng ta tham khảo thêm Luca 13:24, Một ngày nọ, các môn đồ hỏi Chúa Giêxu rằng: “Lạy Chúa, có phải chỉ ít kẻ được cứu chăng?” và Chúa đã trả lời họ: “Hãy gắng sức vào cửa hẹp”. “Gắng sức” hàm ý chỉ về cuộc đua mà người dự thi phải hết sức cố gắng để giành lấy phần thưởng. Câu trả lời của Chúa Giêxu có 2 ý: (1) Chỉ có ít người sẵn lòng tiếp nhận Ngài, (2) Cửa hẹp là con đường khó, phải gắng sức đi vào. Nếu đem Luca 13:24 kết hợp với Mathiơ 7:13-14, chúng ta có được những sự dạy dỗ sau đây:

1. Mỗi một người đều phải quyết định con đường mình đi. Con đường đưa đến sự sống đời đời hoặc con đường hư mất.

2. Chúa Giêxu muốn các môn đồ hiểu một cách đầy đủ sự khó khăn cũng như sự dễ dàng của cửa hẹp và cửa rộng, cùng đích đến của nó, hầu cho họ không bị rơi vào tình trạng bối rối và hối hận khi đã chọn lựa.

3. Nếu chúng ta muốn đi trên con đường dễ dàng, không cần biết đích đến, thì hậu quả thật khôn lường. Nếu cửa hẹp là con đường nên đi của chúng ta, thì cho dù gặp nhiều khó khăn gian khổ, cũng thoả lòng chấp nhận và không bao giờ bỏ cuộc.

4. Sự chọn lựa vào cửa hẹp hay cửa rộng ở đời nầy sẽ quyết định điều sẽ xảy ra trong đời sau.

Tóm lại, sự dạy dỗ chính yếu của bài này là muốn những người đi theo Chúa, đã là con dân nước thiên đàng thì phải đưa ra sự lựa chọn chính xác, để tránh đứng ngoài cửa thiên đàng trong ngày cuối cùng.

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

* Kể chuyện: Lên nhầm xe cướp.

Giáo viên kể ra câu chuyện sau đây (mục đích là khơi dậy sự hứng thú của các em), sau đó hỏi “Giả sử em ở trong tình huống đó, và chỉ có hai sự chọn lựa, một là lên xe, hai là không. Em sẽ chọn cách nào?” (Cho các em tự do phát biểu ý kiến).

Vào một buổi tối nọ, tại vùng quê hẻo lánh, trong căn nhà nhỏ, người vợ trẻ đang trở dạ. Người chồng vội vàng đưa vợ ra đường để tìm xe đến bệnh viện. Vì đây là vùng quê nên rất ít xe cộ qua lại, hơn nữa lúc đó là ban đêm nên lại càng khó đón xe hơn. Rất may mắn, họ đợi được nửa tiếng thì thấy một chiếc xe đến. Họ vội vàng vẫy xe dừng lại. Người chồng nói với tài xế rằng vợ ông cần đến bệnh viện gấp. Khi người chồng mở cửa xe, định dìu vợ ngồi vào ghế sau, thì nhìn thấy bên cạnh tài xế có con dao nhọn dài.

Người chồng sợ hãi hỏi: “Ủa, sao anh đem dao theo khi lái xe?”

- “À, khi nào không có khách thì tôi sẽ đi ăn cướp”. Tài xế trả lời.

- “Vậy… bây giờ anh là tài xế, hay là… cướp? Tôi rất sợ”.

- “Nếu anh cho tôi là cướp thì tôi sẽ là cướp, còn nếu anh cho tôi là tài xế thì tôi sẽ là tài xế. Nhưng tôi cũng không chắc vì tôi có thể thay đổi tuỳ hứng”.

- “Nếu anh là tài xế, tôi rất muốn anh chở chúng tôi đến bệnh viện vì vợ tôi sắp sanh. Tôi không thể đợi xe khác”.

- “Vậy thì lên xe đi!”

“Nhưng tôi không rõ anh là ai? Nếu anh là cướp, vậy thì chẳng phải chúng tôi đã lên xe cướp rồi sao?!”

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Vào đề.

Các em thân mến, các em vừa gặp một tình huống rất khó quyết định, đúng không? Thật ra, có một vài quyết định của chúng ta sẽ ảnh hưởng đến cả đời. Trong bài này Kinh thánh hôm nay, Chúa Giêxu muốn dạy chúng ta điều tương tự như vậy.

2. Bài học.

Cho các em mở Kinh thánh đọc Mathiơ 7:13-14 hai lần. Sau đó  viết ra ý nghĩa của cửa hẹp và cửa rộng vào bài tập phần 1 sách học viên. Giáo viên vận dụng 4 điểm về sự dạy dỗ trong phần cuối của phần “Giáo viên suy gẫm”, để giải thích cho các em biết mục đích Chúa Giêxu đưa ra ví dụ.

3. Ứng dụng.

a. Bảng kiểm tra Xquang cửa hẹp.

Nếu em đi vào cửa hẹp thì cần phải chụp Xquang kiểm tra, xem thử em có mang theo vật cấm nào không? Hoặc hỏi: “Hiện tại, em đang cố gắng sức đi vào cửa hẹp, hay là em đang dừng lại, bỏ cuộc?” (Luca 13:24). Sau đó cho các em làm bài tập phần 2. Điểm số phản ánh tố chất đời sống đang đi vào cửa hẹp của từng em.

b. Cầu xin Chúa thêm sức.

Đi vào cửa hẹp không chỉ là sự lựa chọn của bản thân, mà còn cần có sự giúp đỡ của Chúa, mới có thể vượt qua sự khó khăn và không bỏ cuộc. Cho các em làm bài tập phần 3, viết ra sự khó khăn hay sự trả giá khi đi vào cửa hẹp (hoặc so sánh bài tập phần 2 vừa làm xong, xem có chỗ nào cần cải thiện). Sau đó nói với Chúa sự khó khăn và cầu xin Ngài ban thêm sức.

c. Câu gốc và cầu nguyện: Cùng đọc câu gốc, và kết thúc bằng lời cầu nguyện.

* Đáp án tham khảo.

Bài tập phần 1.

Cửa rộng

Cửa hẹp

Người đi theo nhiều.

Người đi theo ít.

Đi đến sự hư mất mãi mãi (không được vào Nước thiên đàng).

Đi đến sự sống đời đời (được vào Nước thiên đàng).

Cánh cửa rộng, dễ đi (không cần trả giá về niềm tin).

Cánh cửa hẹp, phải gắng sức đi (phải trả giá về niềm tin).

Không có đặc chất của đời sống con dân Nước thiên đàng

Có đặc chất của đời sống con dân Nước thiên đàng.

 

 


Bài 5.                     NHỮNG KẺ CÓ LÒNG KHÓ KHĂN.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 5:3, Thi thiên 40:17; 70:5, 109:21-22, Êsai 57:15; 66:2, Sôphôni 3:11-12 (tham khảo thêm Luca 18:9-14).

II. CÂU GỐC: Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!” (Mathiơ 5:3).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Những kẻ có lòng khó khăn chính là những người nhận biết đời sống thuộc linh của mình nghèo nàn, và hết lòng tìm cầu Đức Chúa Trời.  

- Cảm nhận: Một đời sống tìm cầu Chúa sẽ được phước hạnh.

- Hành động: Sẵn lòng học trở thành người có lòng khó khăn.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

* Bối cảnh Kinh Thánh.

Mathiơ chép Chúa Giêxu sau khi chịu phép báptem và chịu cám dỗ, thì Ngài kêu gọi những các môn đồ đầu tiên tại Galilê, và chính thức bắt đầu chức vụ của Ngài. Chúa Giêxu đi khắp xứ Galilê, dạy dỗ tại nhà hội, giảng dạy về Nước thiên đàng và làm phép lạ (Mathiơ 4:23). Vì Chúa Giêxu đầy dẫy quyền năng trong lời nói và việc làm, nên đã thu hút rất nhiều người từ Galilê, Đêcabôrơ, Giêrusalem, Giuđê, sông Giôđanh đến theo Ngài.

Tiếp đến, trong Mathiơ 5:1, Chúa Giêxu đi lên núi. “Núi” này thật ra không xác định rõ địa điểm, có thể là một cái đồi nằm ở phía góc Tây bắc biển Galilê, cách Cabênaum không xa). Cũng giống như các rabi thời bấy giờ, Chúa Giêxu ngồi xuống dạy dỗ mọi người, và người ta lấy làm kinh ngạc về lời giảng dạy đầy quyền năng của Ngài.

Loạt bài giảng của Chúa trong Mathiơ đoạn 5-7 được gọi là “Bài giảng trên núi”. Nội dung của “Bài giảng trên núi” bao gồm 3 loại dạy dỗ:

1. Tám phước lành (5:3-10).

2. Những lời dạy dỗ về đạo đức (5:13-20, 6:1-7:23).

3. Sự tương phản giữa sự dạy dỗ về đạo đức của Chúa Giêxu với truyền thống tín ngưỡng Do thái (Mathiơ 5:21-48).

Bài học Kinh thánh hôm nay đề cập đến phước lành thứ nhất trong số 8 phước lành. “Phước cho những kẻ có lòng khó khăn vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy” (Mathiơ 5:3).

- “Phước”: Từ ngữ này có nghĩa mạnh hơn là “sung sướng”, vì vui vẻ sung sướng thường chỉ là một cảm xúc lệ thuộc ngoại cảnh.  Nhưng phước ở đây là sự an vui sâu xa và dài lâu, là niềm vui thuộc linh của những người đã được cứu rỗi và được ban cho sự sống đời đời.

- “Lòng khó khăn” có thể dịch là “sự nghèo nàn trong tâm linh”. Bởi vì chúng ta là tội nhân, cần phải có sự giúp đỡ và tha thứ của Đức Chúa Trời. Vì thế, chúng ta nên có thái độ khiêm cung trước mặt Chúa và hoàn toàn tin cậy nơi Ngài.

Sự dạy dỗ về phước hạnh nầy của Chúa Giêxu rất khác biệt so với quan điểm của xã hội ngày nay. Xã hội ngày nay quan niệm rằng, con người luôn phải vận dụng trí khôn, tài năng và sức lực của bản thân để gia tăng giá trị của mình, nếu không sẽ bị đào thải. Thật ra, chúng ta dễ dàng nhận ra mình nghèo nàn về vật chất, nhưng lại rất khó để nhận ra mình nghèo nàn về tâm linh.  Sự dạy dỗ của Chúa Giêxu đôi khi khiến cho người nghe cảm thấy khó hiểu! Thật ra, sự dạy dỗ của Chúa Giêxu không phải là tăng thêm gánh nặng cho những ai nghe Ngài, mà là muốn đánh thức ý thức đã bị ngủ quên. Vì thế, họ phải thức tỉnh và nhận biết bản thân thật sự nghèo nàn về tâm linh, và cần Chúa.

- “Những kẻ” được miêu tả trong tám phước lành là chỉ về những ai đi theo Đức Chúa Trời. Một số tín hữu lúc mới tin Chúa rất có thể có lòng khó khăn, vì vào giai đoạn này, đời sống theo Chúa của họ vẫn còn non nớt. Tuy nhiên, họ luôn được Đức Thánh Linh nhắc nhở, và nhận biết đời sống thuộc linh của mình nghèo nàn. Vì thế, họ xem trọng mỗi cơ hội đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Nhưng theo năm tháng, đời sống thuộc linh tăng trưởng hơn, “lòng khó khăn” ngày trước giờ trở nên lão luyện hơn, và đôi khi rơi vào tình trạng xem mình là đã vững vàng nên xem nhẹ sự cầu nguyện, đọc Kinh thánh mỗi ngày. Chúa Giêxu nhắc nhở chúng ta: “Ta, (Chúa Giêxu) là gốc nho, các ngươi (tín đồ) là nhánh, ai cứ ở trong Ta và Ta trong họ thì sinh ra lắm trái, vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 15:15). Nếu ai khiêm nhường như đứa trẻ, và hết lòng tin cậy Đức Chúa Trời, thì sẽ trở nên lớn hơn hết trong nước thiên đàng (Mathiơ 18:2-4). “Ai không nhận lãnh Nước Đức Chúa Trời như một đứa trẻ, thì sẽ không được vào đó” (Luca 18:17). “Ai tự nhấc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhấc lên” (Luca 18:14). Trong ví dụ về người Pharisi và người thâu thuế (Luca 18:9-14), người thâu thuế tự biết mình là người có tội nên cầu xin Đức Chúa Trời thương xót và tha thứ. Cuối cùng, ông ta được Chúa xưng công bình, vì tội của ông ta được tha thứ không phải nhờ vào bản thân, mà là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Xachê là người thâu thuế giàu có, tuy sở hữu gia tài kếch xù, nhưng ông nhận ra bản thân mình nghèo nàn về tâm linh, nên ăn năn tội và được cứu rỗi (Luca 19:1-10). Chúng ta phải nhận ra một sự thật: Nếu chúng ta ở ngoài Chúa, thì chúng ta không thể làm được gì cả!

Khi một người nhận biết tâm linh mình nghèo nàn, thì cho dù tin Chúa lâu năm cũng sẽ chuyên tâm nhờ cậy Đức Chúa Trời (Sôphôni 3:11,12), trông cậy sự giúp đỡ của Chúa (Thi thiên 40:17; 70:5, 109:21-22), yêu mến Lời của Ngài (Êsai 60:2). Người như vậy không những có được phẩm chất thuộc linh tốt đẹp mà còn được Chúa Giêxu gọi là “có phước”. Tuy “Nước thiên đàng” được triển khai trên thế gian nầy, nhưng phải đến khi “nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài” (Khải huyền 11:15) thì Nước thiên đàng mới trở nên trọn vẹn được. Đức Chúa Trời đoái đến họ (Êsai 66:2) và ở cùng họ, ngự trong lòng họ (Êsai 57:15) chính là để “những kẻ có lòng khó khăn” hưởng phước lành của Nước thiên đàng trong đời này (Mathiơ 5:3, tham khảo Sôphôni 3:11-12).

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

* Giới thiệu từng phần và đề bài.

- Chuẩn bị: Trang tư liệu 2.   

- Giáo viên cầm “bánh xe 8 phước lành” (mặt bề trái hướng về các em), và giới thiệu qua về bối cảnh Kinh Thánh, rồi đọc ra 8 phước lành được ghi trên bánh xe.

Sau đó, giáo viên cùng các em đọc lại phước lành của bài học hôm nay, rồi hướng dẫn các em mở Kinh thánh Mathiơ 5:3 và đọc lại một lần nữa. Tiếp đến hỏi các em “lòng khó khăn” có nghĩa là gì, và hoàn thành bài tập phần 1 “Bài giảng trên núi”.

“Bánh xe 8 phước lành” không những có thể giúp các em hiểu rõ sự nối kết các bài học sau, mà còn giúp các em trong phần học câu gốc. Giáo viên khích lệ các em học thuộc lòng “8 phước lành”, đợi đến khi học xong quý nầy thì kiểm tra. Em nào có thể học thuộc lòng hết “8 phước lành” thì nhận được phần thưởng khích lệ.

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

Giáo viên đưa ra những câu hỏi sau như: Ở đâu? Ai? Cái gì? Tại sao? để khích thích sự suy nghĩ của các em về bài học Kinh thánh hôm nay. Tuy Kinh Thánh chủ yếu của bài này chỉ ở Mathiơ 5:3, nhưng giáo viên có thể giúp các em quan sát về bối cảnh của câu Kinh Thánh nầy. Như vậy có thể làm phong phú thêm sự hiểu biết của các em đối với bài học.

Hơn nữa, việc vận dụng 4 câu hỏi nầy có thể giúp các em động não, rèn luyện việc tự học Kinh Thánh, và các em sẽ cảm thấy vui vì điều nầy. Thật ra, tìm đáp án của các câu hỏi nầy không khó, nhưng ý nghĩa của nó thì cần được giáo viên giải thích. Sau đây là một số câu hỏi đề nghị và đáp án.

1. Ở đâu? Chúa Giêxu phán những lời này ở đâu?

- Đáp án: Trên núi.

- Giải thích: Kinh thánh không nói rõ chính xác địa điểm “núi” này ở đâu, nhưng có thể là cái đồi hơi nghiêng ở phía Tây Bắc biển Galilê, cách Cabênaum không xa.

2. Ai? Chúa Giêxu phán những lời nầy với ai?

- Đáp án: Các môn đồ.

- Giải thích: Chủ yếu là các môn đồ nhưng do lúc bấy giờ có rất nhiều người đi theo Chúa Giêxu, nên họ cũng nghe được sự dạy dỗ của Ngài. Môn đồ cũng chỉ về những người tin Chúa.

3. Cái gì? Chúa Giêxu phán điều gì?

- Đáp án: Chúa Giêxu phán: “Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì Nước thiên đàng là thuộc về những kẻ ấy”.

- Giải thích: Xem trong phần “Giáo viên suy gẫm”.

4. Tại sao? Tại sao trong 8 phước lành, Chúa Giêxu nói về sự dạy dỗ “có lòng khó khăn” trước?

- Đáp án: Chúa Giêxu mong muốn những người nghe Ngài nhận biết tâm linh mình nghèo nàn, hết lòng tìm cầu Ngài để nhận được Nước thiên đàng.

* Ví dụ về chiếc bình không.

- Chuẩn bị: Chiếc bình không, nước, khăn, thau lớn để đựng nước.

Sau khi hoàn thành xong 4 câu hỏi, dùng ví dụ sau đây để minh họa rõ hơn về cụm từ “lòng khó khăn”. Giáo viên đổ nước đầy tràn cái bình không, sau đó hỏi các em: “Chiếc bình đầy nước này có thể chứa thêm nước được nữa không?” (Đương nhiên là không vì nó quá đầy). Tiếp đến, giáo viên lại đổ nước ra, rồi từ từ để nước mới vào được nửa bình, rồi ngừng lại và hỏi các em: “Chiếc bình này có thể chứa thêm nước được không?” (Đương nhiên là được).

Giáo viên giải thích với các em “lòng khó khăn” cũng giống như chiếc bình chỉ chứa một ít nước này. Chiếc bình chứa đầy nước hồi nãy giống như một tín đồ tự cho rằng bản thân mình đã đầy đủ về năng lực, kinh tế, và tâm linh… nên không cần thêm gì nữa. Vì suy nghĩ như vậy nên người đó xem nhẹ công việc của Đức Chúa Trời và không nhờ cậy Ngài, nên Ngài không thể hành động trong lòng những người như vậy. “Lòng khó khăn” là người tin Chúa tự nhận thấy nếu không có Chúa giúp đỡ thì bản thân không thể làm gì được. Vì thế, người nầy hết lòng khao khát tìm cầu Ngài. Người như vậy, Chúa Giêxu cho rằng có phước.   

* Ghi chú: Thông thường các em lớp thiếu nhi từ nhỏ đã đến học trường Chúa nhật, ba mẹ là tín đồ tin Chúa lâu năm hoặc là mục sư. Những em này luôn tự cảm thấy mình biết nhiều về Kinh Thánh, biết cầu nguyện… và mặc nhiên cho mình là con cái Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, việc trở thành con cái của Chúa và việc làm cá nhân. Chính người đó phải thực tâm tiếp nhận Chúa Giêxu làm Cứu Chúa, và hết lòng nhờ cậy Ngài. Khi giảng giải, giáo viên nhấn mạnh vào điều nầy  để nhắc nhở các em.

5. Ứng dụng.

a. Ý nghĩa của “lòng khó khăn”.

Cho các mở bài tập phần 2 “Ý nghĩa của lòng khó khăn” và hướng dẫn các em hoàn thành bài tập nầy. Giáo viên có thể cung cấp đoạn Kinh Thánh và cho các em cùng nhau mở ra đọc.

Sau cùng, giáo viên có thể nói với các em về lời hứa cho người có “lòng khó khăn”. Ngày Chúa Giêxu trở lại, những ai tin cậy Ngài được hưởng Nước thiên đàng” (Mathiơ 5:3; Sôphôni 3:11-12). Ngoài ra, một người có “lòng khó khăn” cũng sẽ nếm trải phước hạnh Nước thiên đàng ngay trong đời nầy, vì Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ chăm sóc họ (Êsai 66:2), và ở trong lòng họ (Khải huyền 3:20; Êsai 57:15).

b. Làm thế nào đây?

Phần bài tập này là giúp các em sau khi nhận biết sự dạy dỗ về “lòng khó khăn” của Chúa Giêxu, thì làm thế nào để thực hiện Lời Chúa vào đời sống. Giáo viên nói rõ cho các em biết Chúa Giêxu dạy điều nầy không phải là muốn em làm một số việc vượt quá sức của em, nhưng là muốn em luôn giữ lòng yêu mến, khao khát tìm cầu và hết lòng nhờ cậy Ngài. Cũng như thân thể, muốn có thân thể khỏe mạnh thì mỗi ngày phải ăn uống cân bằng, nghỉ ngơi đầy đủ, vận động vừa sức và giữ tinh thần khoẻ mạnh.

c. Câu gốc và cầu nguyện: Cùng các em đọc câu gốc, và cầu nguyện.

 


Bài 6.                   NHỮNG KẺ THAN KHÓC.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 5:14 (tham khảo Thi thiên 51:1-3, 7-13, 17; Giêrêmi 13:15-17; Ca thương 3:48-81; Luca 19:41-44).

II. CÂU GỐC: “Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được an ủi” (Mathiơ 5:4).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Những kẻ than khóc là những người đau buồn vì tội lỗi của bản thân, tội lỗi của người khác và sự không công bình xảy ra trên thế giới.

- Cảm nhận: Những ai than khóc sẽ được an ủi bởi Chúa vì chính Ngài là nguồn an ủi.

- Hành động: Sẵn lòng than khóc cho bản thân và cho tội lỗi của người khác.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

Các môn đồ lúc bấy giờ không phải chỉ là những môn đồ chủ yếu của Chúa Giêxu, nhưng là đám đông đi theo Chúa, lắng nghe sự dạy dỗ của Ngài. Việc đi theo Chúa của mỗi người rất khác biệt, có một số người theo Chúa rất quả quyết, nhưng có một số người còn bán tín bán nghi. Vì thế, Chúa Giêxu nhân cơ hội này, dạy dỗ mọi người làm thế nào mới là môn đồ của Chúa, hay nói cách khác là làm thế nào mới trở thành con dân của Nước Trời. Trong bài học Kinh thánh hôm nay, các em sẽ được học phước lành thứ 2 trong 8 phước lành. “Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được an ủi”.

J.Scott đã dùng thủ pháp sinh động và mâu thuẫn để diễn ý lại câu Kinh Thánh này như sau: “Người không vui vẻ sẽ được vui vẻ”. Rốt cuộc, người không vui vẻ vì việc gì mà không vui? Làm thế nào mới có thể cho những người không vui có được vui vẻ? Câu trả lời sau đây, và cũng chính vì lẽ đó mà Chúa Giêxu phán: “Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi”.

1. Than khóc là gì?

“Than khóc” trong câu Kinh Thánh nầy cùng với “buồn rầu” trong Êsai 61:1-2 là giống nhau. Cho nên, rất nhiều học giả Kinh Thánh đều sử dụng câu Kinh Thánh trong sách Êsai này để giải thích ý nghĩa của cụm từ “Than khóc” trong Mathiơ. Nếu nhìn từ bối cảnh của câu Kinh Thánh sách Êsai, dân sự buồn rầu vì cớ nước mất nhà tan. Xảy ra cớ sự như vậy là do tội lỗi của quốc gia, của vua, của dân chúng và của cá nhân, cho nên “buồn rầu” ở đây bao gồm cả hàm ý ăn năn tội. Bởi lẽ đó, “than khóc” là vì tội lỗi của bản thân hoặc của người khác, cùng với thái độ đau buồn ăn năn thống hối. Êsai 61:2 cho biết Đức Chúa Trời đẹp lòng những ai thật lòng ăn năn, Ngài không những tha thứ mà còn dung lời của Ngai an ủi chúng ta.

Nhưng, một số học giả Kinh Thánh khác lại cho rằng, “than khóc” không nhất thiết chỉ về sự ăn năn tội, mà chỉ về một số người đang ở trong khổ nạn, đặc biệt là một số người vì cớ trung thành với Đức Chúa Trời mà chịu khổ. Nếu hiểu theo cách nầy thì phù hợp với lời phán của Chúa Giêxu trong Mathiơ. Vậy thì những người đi theo Chúa Giêxu không thể tránh khỏi sự chịu khổ vì phải gặp bắt bớ, và  Chúa Giêxu phán tiếp: “… vì sẽ được yên ủi”, có thể là nhắm vào những người này.

Tuy nhiên, phước lành cuối cùng trong 8 phước lành cũng nhắc đến “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy”, cho nên, chúng ta cho rằng “than khóc” không phải do “chịu sự bắt bớ vì sự công bình” mang đến. Nếu vậy, hai phước lành này trùng nhau, cho nên, sự giải thích hợp lý hơn về cụm từ “than khóc” là chỉ về tội lỗi.

Những nơi khác trong Kinh Thánh chép lại thái độ “than khóc” về tội như Exơra (vì tội của dân sự mà cầu nguyện xưng tội, khóc lóc sấp mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời) (Exơra 10:1), Đavít vì cớ tội lỗi của mình ăn năn, cầu xin Đức Chúa Trời rửa sạch mọi tội lỗi của ông (Thi thiên 51:1-4). Trong Tân ước, Chúa Giêxu từng khóc cho tội lỗi của toàn thể nhân loại. Ngoài ra, trong I Côrinhtô Phaolô cũng chỉ ra tín đồ phạm tội phải “than khóc” cho tội. Trên thực tế, than khóc cho tội bản thân (hoặc tội của người khác) là nhận thức được tội lỗi mang đến sự phá hoại, và ngăn cách họ đến với Đức Chúa Trời, nên muốn giải quyết triệt để nhưng lại không thể dựa vào bản thân, nên phải cần đến trước mặt Đức Chúa Trời, cầu xin ân điển và sự tha thứ của Ngài.

2. Chúa là nguồn yên ủi.

Nếu con người gặp phải chuyện đau buồn, tất sẽ khao khát có được sự yên ủi của người khác. Vào thời của Êsai, dân Ysơraên chịu đau khổ, và trông mong Đấng Mêsi đến, để yên ủi những người “buồn rầu” (tức than khóc). Đoạn Kinh Thánh miêu tả, “Thần của Chúa Giêhôva ngự trên ta, vì Đức Giêhôva đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường, rịt những kẻ vỡ lòng… yên ủi mọi kẻ buồn rầu…” Ở đây, “Đấng chịu xức dầu” chỉ về Chúa Giêxu, và một trong công tác của Đấng chịu xức dầu là “rịt những kẻ vỡ lòng”, “yên ủi mọi kẻ buồn rầu”. Yên ủi này là đến từ Đức Chúa Trời là thuộc về Đức Chúa Trời cũng là do Đức Chúa Trời chủ động, không giống loại yên ủi của con người. Mathiơ còn chép rằng, người than khóc “sẽ được yên ủi”, có nghĩa là Đức Chúa Trời nhất định sẽ làm như vậy.

Thế gian này đầy dẫy những người không muốn yên ủi người khác. Chúa Giêxu là Đấng yên ủi, Ngài cũng mong muốn những người theo Ngài là người yên ủi người khác. Chúng ta đang sống trong một xã hội nhiều biến động. Thế giới hứng chịu thiên tai nặng nề, đưa đến kinh tế rối loạn, nạn thất nghiệp nghiêm trọng, và vấn đề gia đình cũng trở nên phức tạp, thậm chí rơi vào bi kịch. Ví dụ: Có thể ba mẹ của bạn em ly dị, cãi vả đánh đập nhau vì tiền bạc, người em quen biết bị tù tội… Chúng ta phải dạy bảo các em biết cảm thông, biết an ủi người khác trong cơn khốn khó của họ, và cầu xin sự thương xót của Ngài.

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

* Tai hoạ thảm khốc.

1. Chuẩn bị:

Giáo viên chuẩn bị vài tờ báo của ngày đó hay của vài ngày trước, đọc cho các em nghe. Sau đó cho các em làm bài tập phần 1 “Tai họa thảm khốc”. Cho các em sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao mức độ của tại hoạ, rồi miêu tả tóm tắt về tai họa của bản tin.

2. Mục đích hoạt động:

a. Các em lớp thiếu nhi thường không có thói quen đọc hay xem tin tức. Thông qua hoạt động nầy, giúp các em cảm nhận sự thật về những việc xảy ra.

b. Thông qua việc miêu tả sự kiện, có thể nâng cao sự bày tỏ sự nhạy bén của các em đối với việc hình dung cụm từ “than khóc”.

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Hãy suy nghĩ!

Cho các em mở ra Kinh Thánh Mathiơ 5:4, đọc câu Kinh Thánh  nầy 2 lần. Lần thứ 1 do giáo viên đọc, lần thứ 2 do các em đọc ra. Sau đó cho các em hoàn thành bài tập phần 2 “Hãy suy nghĩ”, hỏi các em: “Chúa Giêxu nhắc đến “những kẻ than khóc” là chỉ về họ đã gặp phải chuyện gì? Vì sao Chúa Giêxu nói họ sẽ được yên ủi?”. Giúp các em hiểu rõ “than khóc” trong bài học không phải chỉ về những sự kiện bất hạnh tương tự như các bản tin tức mà các em vừa đọc, nhưng mà “than khóc” vì cớ nhận biết tội lỗi của bản thân hoặc của người khác. Tuy nhiên, cũng có thể cho các em hiểu trong xã hội có rất nhiều chuyện bất hạnh xảy ra, rất có thể là do tội lỗi, ví dụ: Cha ham mê cờ bạc dẫn đến nợ nần chồng chất, rồi sinh ra cướp giật nên bị tù tội… Chúa Giêxu nói rằng, khi những người này vì cớ nhận biết tội lỗi của mình mà than khóc, Đức Chúa Trời tất sẽ “yên ủi” họ. Sự yên ủi này đến từ Đức Chúa Trời, do Đức Chúa Trời chủ động nên không giống như sự yên ủi của con người đời.

2. Chia sẻ bản thân. 

Cho các em tiếp tục làm bài tập phần 2b, giáo viên có thể chia sẻ trước việc bản thân cũng từng vì phạm lỗi mà buồn đau. Ví dụ: Lúc còn nhỏ, vì muốn đạt điểm cao trong kỳ thi kiểm tra nên đã lén xem tài liệu và bị phát hiện. Ngoài việc bị hạnh kiểm thấp, giáo viên chủ nhiệm còn báo cho ba mẹ biết nữa, và sau đó bị ba mẹ phạt nặng. Lúc đó, anh/chị cho rằng đó chỉ là lỗi nhỏ thôi, nhưng một số bạn học đến khuyên bảo phải thành thật, phải nhận sai lầm của mình. Lúc đó, anh/chị như bừng tỉnh ra, hóa ra mình thật sự đã phạm lỗi. Vì thế anh/chị chính thức xin lỗi giáo viên và cha mẹ, và nhận được sự tha thứ.

(Khuyến khích các em chia sẻ kinh nghiệm của mình).

3. Ứng dụng.

a. Mười cách an ủi người khác.

Trong cuộc sống của mỗi người, không thể tránh khỏi sự “than khóc”, rất cần được an ủi. Nếu chúng ta học lấy gương Chúa Giêxu, đem những lời an ủi đến cho những người có nhu cầu, như vậy không những chỉ có thể giúp đỡ họ, mà còn có thể có cơ hội để nói về Chúa Giêxu cho học nữa. Sau đây là câu chuyện ví dụ, sau khi giáo viên đọc ra, cho các em suy nghĩ và chia sẻ làm thế nào dựa vào “Mười cách an ủi người khác” trong bài tập phần 3 để an ủi người trong câu chuyện.

Câu chuyện: Minh, bạn học của em những ngày gần đây hay nghỉ học. Khi đến lớp thì lại buồn rầu, tâm trí không tập trung, không nghe thầy cô giảng bài. Một ngày nọ, sau khi tan học, em chủ động cùng bạn ấy đi bộ về nhà, lắng nghe lời chia sẻ của bạn ấy. Hóa ra, ba mẹ bạn ấy bất hòa, luôn cãi vã nhau, đòi ly dị. Bây giờ, ba bạn ấy bỏ nhà đi 2 tuần rồi. Mẹ bạn ấy vừa đau buồn vừa cảm thấy nặng nề, vì mọi gánh nặng chi phí trong gia đình chỉ có một mình mẹ bạn ấy lo liệu. Trong lòng Minh rất buồn bã và lo lắng vì gần đến kỳ phải đóng học phí.

b. Câu gốc và cầu nguyện: Cho các em đọc câu gốc hai lần và kết thúc bằng lời cầu nguyện.

Đáp án tham khảo.

* Bài tập phần 3.

1. Tâm tư thái độ phải chân thành.

Quan tâm hay an ủi Minh với thái độ phải chân thành, chứ không phải vì tò mò hoặc muốn đánh giá tốt xấu về gia đình của bạn.

2. Thể hiện sự đồng cảm.

Đứng vào vị trí của Minh để hiểu và thông cảm, đồng thời cho Minh hiểu được em hiểu và đồng cảm với tình cảnh gia đình bạn ấy.  Trong đó có 2 yếu tố mấu chốt: (1) Không chủ quan. (Ví dụ nói rằng, ba của Minh sai, còn mẹ bạn ấy không sai. Thật ra, cả hai đều có lỗi). (2) Quan sát, lắng nghe và nhận biết đối phương nhiều hơn.

3. Hoàn toàn tiếp nhận.

Những gì đối phương nói là những sự việc thật đang trải qua, vì vậy phải tiếp nhận cảm xúc của đối phương. Ví dụ: Minh lo lắng không có tiền đóng học phí, đừng nên cho rằng sự lo lắng của bạn ấy là không nên. (Tất nhiên, hoàn toàn tiếp nhận không phải là tán đồng việc không tốt nào đó của đối phương).

4. An ủi chứ không bố thí.

Sự an ủi xuất phát từ sự yêu thương và cảm thông, sẵn sàng giúp đỡ bạn bằng mọi cách để bạn vượt qua khó khăn (có thể là tinh thần hoặc vật chất), chứ không phải là “bố thí” lời nói (hoặc vật chất) của mình cho qua chuyện. Đừng để đối phương bụ tổn thương.

5. Không hành động lỗ mãn.

Khi an ủi người khác, đừng tùy ý hay lỗ mãn bày tỏ ý kiến cá nhân, vì có nhiều lúc chưa hiểu rõ ràng tình cảnh của đối phương, ngược lại càng nói càng khiến người nghe không được an ủi. Ví dụ: Đề nghị Minh mượn tiền ai đó để đóng học phí, nhưng có lẽ bạn ấy cảm thấy đây là việc xấu hổ, không muốn cho người khác biết.

6. Có khi phải yên lặng.

Có khi nói nhiều không an ủi được người khác bằng việc ngồi im lặng lắng nghe. Đôi khi việc lắng nghe một cách chân thành của em cũng đã khiến đối phương cảm thấy được khích lệ.

7. Hành động phải thực tế.

Một người hay nói rằng mình yêu thương ai đó nhưng không có hành động thực tế, thì chỉ là lời nói suông. Kinh Thánh dạy rằng: “Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau” (Galati 6:2), “Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc” (Rôma 12:15)… toàn là sự dạy dỗ về hành động.

8. Cầu thay bày tỏ tình yêu của Chúa.

Em có thể nói với đối phương rằng sẽ cầu thay cho họ, cầu xin Chúa Giêxu thương xót  và giúp đỡ. Trên thực tế, khó khăn là không dễ dàng giải quyết, nhưng vì cớ trong lòng có sự bình an của Đức Chúa Trời, hoặc sự khích lệ bởi tình yêu của Chúa, đối phương sẽ có cách nhìn khác nhau đối với sự việc.

9. Giữ bí mật đến cùng.

Chúng ta không được tùy tiện tiết lộ nội dung cuộc đối thoại hay tình cảnh của đối phương, để tránh việc mất lòng tin nơi người khác, chưa kể đến việc sự việc bị bóp méo khi lan truyền ra, hoặc sẽ làm cho đối phương càng bị tổn thương hơn. Tuy nhiên, nếu đối phương có những ý nghĩ hoặc hành động tiêu cực như: Muốn bỏ nhà đi, muốn tự tử, muốn gây thương tích cho người khác… thì chúng ta phải bày tỏ với người lớn hay mục sư để có sự giúp đỡ kịp thời.

10. Đồng hành.

Đồng hành bày tỏ bản thân sẵn lòng trở thành người ủng hộ và đi bên cạnh cho đến khi khó khăn đi qua. Nhiều lúc, khi người cần giúp cảm thấy bên cạnh có ai đó ủng hộ, thì sẽ càng có can đảm đối diện với khó khăn.

 

Bài 7.                     NHỮNG KẺ NHU MÌ.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 5:5; Châm ngôn 15:1; 25:15; II Tim 2:24-26; Hêbơrơ 3:12-19; I Phi 3:14-16; Giacơ 1:21 (Tham khảo Mathiơ 11:29; Philíp 2:6-8; I Phi 2:23-24).

II. CÂU GỐC: Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!” (Mathiơ 5:5).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Hiểu rõ những người nhu mì là những người dịu dàng vâng phục Đức Chúa Trời, ôn hòa khiêm tốn với mọi người.

- Cảm nhận: Những người có lòng nhu mì khiêm nhường sẽ được Đức Chúa Trời ban phước.

- Hành động: Tương giao với Chúa và làm theo lời Ngài mỗi ngày để đời sống em trở nên nhu mì khiêm nhường.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

Tám phước lành là lời hứa của Chúa Giêxu Christ cho các môn đồ. Các môn đồ của Chúa Giêxu đến từ các hoàn cảnh khác nhau, họ sẵn lòng từ bỏ mọi thứ để đi theo Ngài. Họ không có cuộc sống vật chất dư dật, nếu không  muốn nói là nghèo nàn. Thế mà, trong bài giảng trên núi nói về các phước lành, Chúa Giêxu nói họ có phước. Phước nầy liên quan đến nước thuộc linh, không phải là phước vật chất. Có thể có được những phước lành này, chính là những ai thể hiện phẩm chất tốt đẹp của đời sống thuộc linh.

Chúa Giêxu dạy dỗ các môn đồ trên núi, nói rõ các phẩm chất  cùng phước lành phải có của con dân nước thiên đàng. Chúa Giêxu phán rằng: “Phước cho những kẻ nhu mì vì sẽ hưởng được đất” (Mathiơ 5:5). “Nhu mì” có thể dịch là “khiêm tốn”, chỉ về thái độ khiêm tốn cung kính sấp mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời, cầu xin sự thương xót của Ngài. Đây không hẳn là một thái độ hay phong cách, mà là từ bỏ chủ quyền bản thân, không cố chấp bảo vệ bản thân. Người nhu mì không hề giành lợi ích cho mình, nhưng sống cho Chúa và người khác. Cho nên, Chúa Giêxu ban bố phước lành mà những người nhu mì sẽ được chính là “hưởng được đất”, ý nói về đất thuộc linh. Quan niệm về “hưởng được đất” đến từ Cựu ước, vì Đức Chúa Trời từng ban lời hứa cho con cháu của Ápraham được hưởng đất Canaan làm cơ nghiệp. Lời tuyến bố của Chúa Giêxu về phước lành nầy hàm ý rằng, các môn đồ dưới sự ân điển của thời Tân ước, sẽ hưởng được cơ nghiệp trên trời (I Phierơ 1:3-4).

Nhu mì chính là dịu dàng, ôn hòa, khiêm tốn với mọi người. Kinh Thánh chỉ ra những người nhu mì không tượng trưng cho sự nhu nhược và yếu đuối, ngược lại là đầy dẫy sức mạnh, như “Lưỡi mềm dịu bẻ gãy các xương” (Châm ngôn 25:15). Dùng cách mềm mại mà sửa dạy người khác có thể cảm động lòng người (II Timôthê 2:24-26), “Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận” (Châm ngôn 15:1)… Ngoài ra, những người nhu mì luôn giữ tấm lòng vâng phục với Đức Chúa Trời, nhận lấy lời của Đức Chúa Trời nên tất sẽ được cứu (Giacơ 1:21). Ngược lại, nếu lòng cứng cỏi, không vâng phục Đức Chúa Trời thì không được vào sự yên nghỉ của Chúa (Hêbơrơ 3:12-19),

Đức Chúa Giêxu phán: “Ta có lòng nhu mì……sẽ được yên nghỉ” (Mathiơ 11:29). Trong thư gửi cho Hội thánh Philíp, Phaolô đã nói về sự khiêm nhường nhu mì của Chúa như sau: “Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời,….., chết trên cây thập tự” (Philíp 2:6-8). “Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại… phó mình cho Đấng xử đoán công bình” (I Phierơ 2:23a), phản ảnh đầy đủ phẩm chất tốt đẹp nhu mì và khiêm nhường của Chúa Giêxu.

Bài học hôm nay cho các em hiểu rõ những người nhu mì chính là những người khiêm cung vâng phục Đức Chúa Trời, ôn hòa, khiêm tốn với mọi người, và học theo Chúa Giêxu để trở thành người khiêm tốn, ôn hòa đẹp lòng Đức Chúa Trời và mọi người.

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

* Ai nhu mì nhất?

Giáo viên cùng các em đưa ra một cuộc bầu cử “Ai nhu mì nhất?” Trước hết, cho các em đề cử một vài người, sau đó chọn ra một bạn nhu mì nhất trong lớp (Có thể đa số người được chọn sẽ là nữ, vì nữ thường dịu dàng nhu mì). Tiếp đến, mời các em nêu ra người nhu mì nên có đặc chất gì? (Viết trên bảng).

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Vào đề.

Sau đó, giáo viên đưa vào phần học tập Kinh Thánh: “Chúng ta thường cho rằng nhu mì là đặc chất của các em nữ, trong khi đó, các em nam lại cho rằng nhu mì là yếu đuối, nên không muốn ai nói mình có tính nhu mì cả. Tuy nhiên, Kinh thánh nói về nhu mì không hẳn là sự dịu dàng của nữ giới. Thật ra, Chúa Giêxu là người nhu mì nhất trên thế giới. Ngài phán: “Phước cho những kẻ nhu mì vì sẽ hưởng được đất” (Mathiơ 5:5). Chúng ta cùng xem sự dạy dỗ của Chúa Giêxu nhé!

2. Bài học.

a. Em có nhu mì không?

Cho các em mở sách học viên bài 7, hướng dẫn các em hoàn thành bài tập phần 1: “Em có nhu mì không?” Mục đích của bài tập nầy là cho các em nhận ra bản thân có phải là người nhu mì không?

Sau khi thực hiện xong, giáo viên cho các em xem một số câu Kinh thánh nói về sự nhu mì. Có thể viết các câu Kinh thánh nầy trên những miếng bìa cứng, cho các em rút ra và đọc lên. Hoặc cũng có thể viết câu Kinh thánh và địa chỉ tách rời nhau, sau đó chia nhóm để thi đua xem nhóm nào tìm địa chỉ Kinh thánh nhanh nhất. Giáo viên cũng có thể cùng các em đọc những câu nầy từ Kinh thánh, và thảo luận đặc chất của sự nhu mì.

(1) Lưỡi mềm dịu bẻ gãy các xương (Châm ngôn 25:15).  

(2) Dùng cách mềm mại mà sửa dạy những kẻ chống trả dịu khuyên dạy người khác có thể cảm động lòng người (II Timôthê 2:25).

(3) Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận (Châm ngôn 15:1).

(4) Hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em, song phải hiền hòa và kính sợ (I Phierơ 3:14-16).  

(5) Đem lời nhu mì nhận lấy lời đã trồng trong anh em, là lời cứu được linh hồn của anh em (Giacơ 1:21).  

b. Ngài chẳng có hình dung đẹp đẽ.

Giáo viên hướng dẫn các em đọc phân đoạn Kinh Thánh sau đây, sau đó cho các em nói ra phân đoạn Kinh Thánh này mô tả về ai.   Người đã lớn lên trước mặt Ngài như một cái chồi, như cái rễ ra từ đất khô. Người chẳng có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ; khi chúng ta thấy người, không có sự tốt đẹp cho chúng ta ưa thích được. Người đã bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì. Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ.  Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương, Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người. Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng. Bởi sự ức hiếp và xử đoán, nên người đã bị cất lấy; trong những kẻ đồng thời với người có ai suy xét rằng người đã bị dứt khỏi đất người sống, là vì cớ tội lỗi dân ta đáng chịu đánh phạt? Người ta đã đặt mồ người với những kẻ ác, nhưng khi chết, người được chôn với kẻ giàu; dầu người chẳng hề làm điều hung dữ và chẳng có sự dối trá trong miệng”.

Đức Chúa Giêxu chẳng có hình dung đẹp đẽ khiến người khác yêu thích, nhưng Ngài là người nhu mì nhất trên thế giới. Chúa Giêxu phán: Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ” (Mathiơ 11:29).

Phaolô cũng ca ngợi Chúa Giêxu khiêm tốn tự bỏ mình đi, Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự” (Philíp 2:6-8). Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề ngăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình” (I Phierơ 2:23)… Những câu Kinh thánh nầy đã phản ảnh đầy đủ phẩm chất cao đẹp về sự nhu mì và khiêm nhường của Chúa Giêxu.

Sau đó giáo viên mời các em làm bài tập phần 2. Phần nầy đòi hỏi trí tưởng tượng của các em. Giáo viên có thể đọc lại phân đoạn Kinh Thánh trong Êsai 53 và các em vẽ ra hình ảnh mà các em tưởng tượng về Chúa Giêxu.

Giáo viên tổng kết: Bề ngoài không quan trọng, Đức Chúa Trời không nhìn xem bề ngoài nhưng nhìn xem trong lòng của chúng ta. Chúng ta phải học theo Chúa Giêxu, trở thành một người khiêm tốn, nhu mì

3. Ứng dụng.

a. Thư của vịt con xấu xí.

Giáo viên cùng các em thảo luận lá thư của vịt con xấu xí, đưa ra những nhận định cá nhân, sau đó bảo các em hoàn thành bài tập phần 3.

* Gợi ý.

-  Bề ngoài không quan trọng, chỉ cần tâm tính nhu mì và tốt bụng là được.

- Tâm tính của vịt con xấu xí thực ra rất nhu mì và tốt bụng (có thể thấy được từ việc bạn ấy định giúp Sang), cho nên phải khích lệ bạn ấy thể hiện tính tốt của mình.

- Tuy bị các bạn học đặt biệt danh và chọc ghẹo, nhưng bạn ấy không nên vì thế mà ghét các bạn học, hoặc mất kiểm soát nổi giận. Phải nhẫn nại và ôn tồn nói với các bạn là mình không thích bị đối xử như vậy, vì làm như vậy là không đúng, mong các bạn hiểu cho.

b. Quyển sổ các việc nhu mì.

Giáo viên khuyến khích các em ghi lại các biểu hiện nhu mì trong tuần, khích lệ các em theo gương Chúa Giêxu trở thành một người khiêm tốn, nhu mì.  Sau đó, mời các em chia sẻ trong lớp vào tuần sau.

c. Câu gốc và cầu nguyện: Cùng các em đọc câu gốc và cầu nguyện kết thúc.

 

 


Bài 8.     NHỮNG KẺ ĐÓI KHÁT SỰ CÔNG BÌNH.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 5:6; Êsai 55:1-2; Giăng 7:37-38, 6:35, 4:10-14.

II. CÂU GỐC: Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!” (Mathiơ 5:6).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Những kẻ đói khát sự công bình là những người khát khao được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, làm mọi sự hợp ý Ngài.

- Cảm nhận: Những người khao khát Chúa sẽ nhận được ân điển và sự thương xót của Đức Chúa Trời.

- Hành động: Sẵn lòng học trở thành người khát khao sự công bình.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

Khi Chúa Giêxu dạy dỗ các môn đồ, Ngài đã nói rõ phẩm chất nên có và phước lành cặp theo của con dân nước thiên đàng. “Những kẻ đói khát sự công bình tất sẽ được no đủ” là phước lành thuộc linh thứ tư trong số tám phước lành.

Đói khát là những biểu hiện bình thường của nhu cầu thể xác con người. Đây là một sự đòi hỏi bình thường có mối liên hệ trực tiếp với cuộc sống, bởi vì không có nước uống và thức ăn, con người sẽ không thể tồn tại. Vì thế, Kinh Thánh thường lấy nhu cầu ăn uống của thể xác để ví sánh với sự đói khát tâm linh. Chúa Giêxu dùng hình ảnh về sự đói khát thể xác, để hình dung những kẻ đói khát sự công bình của Đức Chúa Trời. Có thể thấy “đói khát sự công bình” là sự khát khao của đời sống, là sự yêu mến xuất phát từ tâm hồn, chứ không phải là sự khao khát giả tạo, cũng như đói khát về thể xác  không thể nào giả tạo được vậy, nó tự nhiên và cấp bách.

Ai là người đói khát sự công bình? Chính là những người không tự xem mình là công bình, sẵn lòng từ bỏ mọi thứ của mình, hết lòng trông đợi sự công bình của Đức Chúa Trời. Phước cho những ai đi theo Chúa Giêxu, vì họ tất sẽ được nuôi nấng bằng bánh của sự sống.

Đói khát sự công bình chính là mong muốn mãnh liệt được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, đối nhân xử thế hợp ý Đức Chúa Trời, trông mong Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài được tỏ ra trên đất. “Đói khát sự công bình” có nghĩa là khát khao được trở nên giống Chúa và học theo Ngài, bởi vì “công bình” là bản tính của Đức Chúa Trời (I Giăng 1:9), cũng là bản chất của  Chúa Giêxu Christ (Hêbơrơ 1:9). Đức Chúa Giêxu là Bánh của sự sống, Ngài ban nước Hằng sống cho con người. Hễ ai đến với Ngài, thì sẽ được no đủ (Giăng 7:37-38, 6:35, 4:10-14). Ngài gánh thay tội lỗi của chúng ta, lấy công bình thay cho không công bình (I Phierơ 2:24, 3:18), khiến chúng ta không phải được xưng công bình bởi vâng giữ luật pháp, mà là vì tin nhận Chúa Giêxu. Vì thế, đói khát sự công bình cũng chỉ về việc chúng ta khát khao có được tình yêu xả thân của Đấng Christ.

Có hai hình ảnh minh họa điển hình trong Kinh Thánh nói về “đói khát sự công bình”: Vị quan Êthiôbi (Công vụ 8:26-40) và người trẻ tuổi giàu có (Mathiơ 19:16-22). Cả hai đều là người đói khát sự công bình, nhưng kết quả lại không giống nhau. Quan Êthiôbi là một vị quan đầy quyền lực, làm quan cai quản kho tàng của nữ vương nước Êthiôbi. Đức Thánh Linh đã dẫn dắt Philíp và vị quan nầy gặp nhau. Lúc đó, quan Êthiôbi đang đọc sách tiên tri Êsai, ông ta khao khát lời Đức Chúa Trời, nên mời Philíp lên xe và  lắng nghe Philíp giải thích về đoạn Kinh thánh mà ông đang đọc nói về Chúa Giêxu. Vị quan này khiêm tốn nhận sự dạy bảo và có lòng khát khao lời Đức Chúa Trời, khiến cho đời sống ông ta được thay đổi. Từ đó có thể thấy được, những ai đói khát sự công bình tất sẽ được phước lành và ân điển của Đức Chúa Trời.

Còn trường hợp về chàng trai trẻ giàu có, người này cũng có lòng khao khát sự công bình, nhưng khi Chúa Giêxu yêu cầu bán hết gia tài bố thí cho kẻ nghèo rồi đi theo Ngài, thì chàng trai không thể vượt qua thử thách nầy, vì yêu qúy tài sản của mình hơn Chúa.

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

* Em cần gì nhất?

Hướng dẫn các em làm bài tập phần 1 “Em cần gì nhất?” Sau khi biết đáp án rồi thì giáo viên chia sẻ: “Trong cuộc sống, mỗi người đều sẽ gặp phải tình huống nguy hiểm nào đó. Vào tình huống đó, có một số vật dụng dường như rất bình thường nhưng lại rất cần thiết cho chúng ta, ví dụ như khí oxy trong trường hợp hồi nãy. Nếu hỏi trong đời người cần điều gì nhất, em sẽ trả lời như thế nào?

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Vào đề.

Các em thân mến, mỗi người đều cần những thứ khác nhau trong cuộc sống. Bài học Kinh Thánh hôm nay miêu tả có một hạng người  họ cần nhất là “sự công bình” của Đức Chúa Trời. Chúa Giêxu gọi họ là “những kẻ đói khát sự công bình”. Bây giờ chúng ta tìm hiểu sự công bình mà họ khao khát là gì nhé!

2. Bài học.

a. Đói khát và no đủ.

 Giáo viên có thể cho các em xem một số bài báo, hình ảnh nói về nạn đói, và cùng các em thảo luận nếu các em ở trong nạn đói, thì các em cần thứ gì nhất?

* Tin tức 1: Bắc Triều Tiên liên tiếp mấy năm liền xảy ra nạn đói.  Có năm hạn hán xảy ra rất nghiêm trọng, nhiệt độ bình quân cao hơn bình thường từ 3oC -10oC làm hoa màu chết khô, khiến cho tình trạng thiếu thốn lương thực càng nghiêm trọng hơn. Trong đại nạn hạn hán và đói kém, tỉ lệ tử vong cao gấp 4 lần so với năm 1974. (Nhật báo Đông Phương 31/03/2002).

* Tin tức 2: Nam Phi đang đối mặt với nạn thiếu lương thực trầm trọng nhất trong vòng 10 năm nay. Hạn hán là một trong các nguyên nhân chủ yếu khiến các khu vực rộng lớn lâm vào nạn đói kém. Mỗi tháng cần phải cung cấp ít nhất 10 vạn tấn lương thực mới có thể đáp ứng nhu cầu thấp nhất của Nam Phi.

Giáo viên tổng kết: Còn rất nhiều nơi trên thế giới phải liên tục hứng chịu nạn hạn hán và đói kém. Tuy nhiên, cũng có nhiều người trên thế giới nầy không ở trong tình trạng đói kém về thể xác, nhưng lại ở trong tình trạng đói khát về sự công bình. Chúng ta xem sự dạy dỗ của Chúa Giêxu.

b. Đói khát sự công bình.

Hướng dẫn các em hoàn thành bài tập phần 2: “Đói khát sự công bình”. Cho các em tham khảo gợi ý của phân đoạn Kinh Thánh, tìm ra ngụ ý của cụm từ “công bình”, và dùng lời riêng của mình viết ra công thức “đói khát sự công bình”. Sau đó, cho các em tự suy nghĩ và trả lời xem, em có “đói khát sự công bình” không?

c. Kết cuộc khác nhau.

Kinh Thánh chép lại hai người đói khát sự công bình. Đó là vị quan Êthiôbi (Công vụ 8:26-40) và chàng trai trẻ giàu có (Mathiơ 19:16-22). (Mọi chi tiết có thể tham khảo phần “Giáo viên suy gẫm”.  Giáo viên cho các em chia nhóm đọc phân đoạn Kinh thánh nầy, sau đó hoàn thành bài tập phần 3).

Giáo viên tổng kết: Vị quan Êthiôbi vì cớ khiêm tốn nhận lấy sự hướng dẫn và có lòng khát khao lời Đức Chúa Trời nên đời sống được thay đổi. Chúa Giêxu phán: Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!” (Mathiơ 5:6). Qua đó, chúng ta có thể thấy được, những kẻ đói khát sự công bình tất sẽ được phước và ân điển của Đức Chúa Trời ban cho. Còn chàng trai trẻ giàu có trước lời đề nghị của Chúa, mới nhận ra tài sản của mình là thứ quý giá nhất, nên anh ta không thể từ bỏ. Em muốn có thái độ giống như vị quan Êthiôbi hay như chàng trai trẻ giàu có?

3. Ứng dụng.  

a. Em có ở trong tình trạng đói khát sự công bình không?

Cho các em làm bài tập phần 4, dùng hình vẽ để truyền đạt sự khát khao đối với Chúa Giêxu. Tiếp đến, dùng bài “Cầu nguyện chung” để viết vào nội dung lời cầu nguyện của em.

b. Câu gốc và cầu nguyện: Cho các em cùng đọc câu gốc, sau đó kết thúc bằng lời cầu nguyện.

Đáp án tham khảo sách học viên

* Bài tập 1 “Em cần gì nhất?”

Vật dụng

Thứ tự

Lý do

Thức ăn chế biến.

4

Có thể nhanh chóng cung cấp năng lượng đã tiêu hao của cơ thể.

Dây thừng cứu sinh (15m).

6

Có thể dùng để leo dốc và kéo đồ vật.

Cây dù.

8

Che ánh nắng mặt trời, bảo vệ thân thể.

Sữa không béo (1 lít)

10

Mang theo bất tiện, có thức ăn chế biến là đủ.

Thùng oxy (45 lít).

1

Mặt trăng không có khí oxy, nên nó là thứ duy trì sự sống căn bản nhất.

Bản đồ địa hình các hành tinh.

3

Dùng để chỉ dẫn phương hướng.

Thuyền cứu sinh mặt trăng.

9

Là thứ các bạn dự trữ trên thuyền, có thể dùng làm máy đẩy.

Nước lọc (5 lít).

2

Bổ sung nước cho cơ thể.

Thùng thuốc (bao gồm ống tiêm).

7

Kim tiêm dùng để tiêm thuốc khi cần thiết.

Máy thu sóng năng lượng mặt trời.

5

Để liên lạc với tàu vũ trụ dự bị.

* Bài tập 3 “Kết cuộc khác nhau”.

Kinh thánh

Công vụ 8:26-40.

Mathiơ 19:16-22.

Nhân vật

Vị quan Êthiôbi.

Chàng trai trẻ giàu có.

Nghề nghiệp

Quan cai quản kho tàng nữ vương Êthiôbi.

Người nhà giàu (có thể có ruộng đất cho thuê hay buôn bán).

Quốc tịch

Êthiôbi (Châu Phi).

Giuđa (Mác 10:17-31).

Tính cách

Khiêm tốn chịu sự dạy bảo

Xem của cải là trên hết.  

Quá trình tiếp xúc Chúa Giêxu/ Tin lành

Đọc sách Êsai ở trên xe, Đức Thánh Linh dẫn dắt Philíp đến gặp ông. Ông ta mời Philíp giải thích về phân đoạn Kinh thánh nói về Chúa Giêxu.  Philíp rao giảng Tin lành của Đức Chúa Giêxu cho ông ta, và sau đó ông ta đã tin và chịu phép báptem.

Chủ động tìm đến Chúa Giêxu cầu xin sự hướng dẫn làm thế nào để được sự sống đời đời. Chúa Giêxu bảo anh ta hãy bán hết gia tài mà bố thí cho kẻ nghèo,  sau đó đi theo Ngài. 

Biểu hiện “đói khát sự công bình”.

Đọc sách Êsai ở trên xe.

Mời Philíp lên xe, xin Philíp chỉ dạy lời Đức Chúa Trời.

Quyết chí tin Chúa và chịu phép báptem.

Chủ động tìm Chúa Giêxu

Khao khát có được sự sống đời đời.

Từ nhỏ đã vâng giữ điều răn của Đức Chúa Trời (Mác 10:17-31).

Kết cuộc

Tiếp nhận Tin lành

Tiếc của cải nên bỏ đi.

 

 


Bài 9.                  NHỮNG KẺ HAY THƯƠNG XÓT.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 5:7; 6:12,14-15; 9:13; 18:32-35; 23:23; Châm ngôn 21:13 (tham khảo Mathiơ 15: 32-39; Luca 7:11-15; Công vụ 9:26-28; 12:25; 15:36-41).

II. CÂU GỐC: Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!” (Mathiơ 5:7).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Hiểu rõ những kẻ thương xót là những người tha thứ cho người có tội, làm ơn cho những ai khốn khổ.

- Cảm nhận: Những người có tấm lòng mềm mại, biết tha thứ cho người khác thì cũng sẽ nhận được sự thương xót của Chúa. 

- Hành động: Sẵn sàng tha thứ và bày tỏ lòng thương xót với người khác.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

Chúa Giêxu dạy dỗ các môn đồ ở trên núi, và nói rõ phẩm chất và phước lành nên có của con cái Nước thiên đàng. Phước lành thứ năm là Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!”

Hàm ý của cụm từ “thương xót” rất rộng, bao gồm yêu thương, thông cảm, nhân từ, tha thứ… những biểu hiện nầy phát xuất từ một người trưởng thành, còn trẻ con chỉ mong muốn được người khác  yêu thương và thông cảm, chú trọng đến sự cảm nhận của mình hơn, không biết thông cảm cho người khác. Nhưng Chúa Giêxu dạy chúng ta phải có lòng thương xót người khác, chứ đừng như trẻ con, coi mình là trung tâm.

Thương xót chính là làm ơn cho những ai khốn khổ. Khi chúng ta gặp ai đó trong tình trạng khốn khó, lòng chúng ta cảm thấy xót xa, mong có thể giúp đỡ họ. Luca 10:25-37 Chúa Giêxu kể về người Samari nhân lành đã động lòng thương xót, tận tình giúp đỡ người bị nạn, không những băng bó vết thương mà còn đưa người bị nạn đến nhà trọ để được chăm sóc sau đó. Lòng thương xót như vậy mới đẹp lòng Đức Chúa Trời.

Chúng ta phải học gương Chúa Giêxu, thương xót những người bên cạnh chúng ta, vì thương xót là bản tính của Đức Chúa Trời (Ôsê 6:6; Phục truyền 4:31), và cũng là bản tính của Đấng Christ. Đức Chúa Giêxu luôn tỏ ra lòng thương xót người của Ngài (Mathiơ 9:36; 14:14). Sự thương xót của Chúa Giêxu được thể hiện ở việc quan tâm đến bệnh tật, đau khổ và nhu cầu trong cuộc sống của con người. Trong 3 năm rưỡi thi hành chức vụ của Chúa Giêxu, Ngài đã chữa lành người bệnh, đuổi quỷ, khiến người mù được thấy (Giăng 9:1-7), người què được đi (Giăng 5:1-18), người chết sống lại (Luca 7:11-15)… có thể thấy được lòng thương xót rất lớn của Ngài.

* Tha thứ những ai phạm tội.

Ngoài ra, một ý khác của lòng thương xót đó là tha thứ cho những ai phạm tội, cho họ có cơ hội sửa đổi và tiếp nhận họ, cũng như Chúa Giêxu tiếp nhận những người có tội, bao gồm người thâu thuế, người đàn bà phạm tội tà dâm… Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêxu dạy chúng ta phải yêu thương kẻ thù nghịch, yêu thương người có tội. Một ví dụ điển hình trong Kinh Thánh, đó là Banaba đã tiếp nhận Phaolô sau khi ông trở lại tin Chúa (Công vụ 9:26-28, 12:25, 15:36-41). Lúc bấy giờ, Phaolô đến Giêrusalem, và muốn hợp tác cùng các môn đồ để truyền giảng Tin Lành, nhưng các môn đồ và Hội thánh tại Giêrusalem vẫn chưa thoát khỏi nỗi ám ảnh của họ về một Saulơ hung bạo, bắt bớ những người theo Chúa, cho nên Hội thánh nghi ngờ Phaolô. Nhưng Banaba đã mở lòng đón nhận Phaolô, dẫn ông đến gặp các sứ đồ khác, cho Phaolô có cơ hội làm chứng về sự gặp gỡ Chúa Giêxu và sự thay đổi của mình.

* Thương xót quan trọng hơn của lễ.

Trong thời gian Chúa Giêxu thi hành chức vụ ở thế gian, lời nói việc làm của Ngài luôn bày tỏ lòng thương xót. Thương xót con người lầm lạc hư mất là tình yêu thương bao la, vĩ đại nhất của Đức Chúa Trời. Chúa Giêxu yêu kẻ có tội, yêu kẻ thù, đến nỗi phải đổ huyết trên thập tự giá, chịu chết hầu cho mọi người đến với Ngài được tha tội và được sự sống đời đời. Ngoài ra, Chúa Giêxu còn dạy rằng, lòng thương xót người khác còn quan trọng hơn của lễ (Mathiơ 9:13; 23:23). Một người có nhận được sự thương xót của Đức Chúa Trời hay không, phụ thuộc vào việc người đó có lòng thương xót người khác hay không (Mathiơ 6:12,14-15; 18:32-35). Cho nên, Chúa Giêxu phán khi chúng ta sẵn lòng thương xót người khác, thì chúng ta cũng được thương xót. Đây cũng là mục đích của bài học Kinh thánh hôm nay. Mục tiêu của bài này là muốn các em sẵn lòng học tập để trở thành người biết thương xót người khác, làm theo lời của Ngài để nhận được sự thương xót của Chúa.

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

* Lòng thương xót.

Giáo viên cùng các em thảo luận một số câu hỏi sau đây, cho các em tự do trả lời, không đưa ra bất cứ đáp án nào. Sau đó đi vào nội dung bài học để nhận biết thế nào là sự thương xót thật sự.

1. Một bà lão trên đường: Một hôm, em thấy một bà lão đang ăn xin trên đường. Bà không mang giày dép, quần áo thì rách rưới, trước mặt đặt một cái thau để xin tiền hoặc thức ăn, bên cạnh đặt một cái túi đựng đồ đạc cũ kỹ. Em sẽ làm thế nào?

2. Kiệt trên sân cỏ: Kiệt rất thích chọc ghẹo người khác, thậm chí còn ăn hiếp những bạn yếu đuối hơn, nên không ai muốn làm bạn với Kiệt. Giả sử em cũng từng bị Kiệt chọc ghẹo. Một hôm, trong trận bóng của lớp, Kiệt vô ý té ngã bên cạnh em, em sẽ làm thế nào?

3. Một người ở tù: Một tù nhân vì phạm tội giết người mà bị tù chung thân. Trong tù, anh ấy ăn năn tin nhận Chúa và quyết tâm sửa đổi, tích cực tham gia công tác xã hội và phấn đấu học tập. Hôm nay, anh ta được ra tù và đến nhóm ở Hội thánh em. Em có thái độ nào đối với anh ta?

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Vào đề.

Chúa Giêxu phán rằng: “Những kẻ hay thương xót sẽ được thương xót”. Khi các em sẵn lòng bày tỏ lòng thương xót người khác, các em đã được Chúa thương xót rồi. Vậy thì, thương xót là gì? Giả sử em thấy một người ăn xin ngoài đường đến xin tiền em, trong lòng em thật sự không muốn cho, nhưng vì trong lòng cảm thấy áy náy, sợ người khác nhìn em với đôi mắt không thiện cảm, nên em thảy đại vài đồng xu lẻ. Đây có phải là lòng thương xót mà Chúa Giêxu đã nói không? Chúng ta cùng nhau xem sự dạy bảo của Chúa Giêxu nhé!

2.  Bài học.

a. Lòng thương xót trong Kinh thánh.

Chia các em thành nhiều nhóm, lần lượt tham khảo phân đoạn Kinh Thánh trong bài tập 1, xem câu nào liên quan đến sự thương xót. Sau đó, giáo viên cùng các em chia sẻ nội dung của các phân đoạn Kinh Thánh.

b. Em đã từng thương xót người khác và được thương xót?

Giáo viên cho các em hoàn thành bài tập phần 2, sau đó khuyến khích các em chia sẻ những kinh nghiệm về sự thương xót người khác, hoặc được người khác thương xót.

Giáo viên kết luận: Lúc nãy, các em đã chia sẻ sự từng trải về việc có lòng thương xót người khác, hoặc được người khác thương xót. Chúa Giêxu phán: Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!” (Mathiơ 5:7). Ngài còn cho chúng ta biết, Đức Chúa Trời muốn chúng ta có lòng thương xót người khác, hơn cả của lễ mà chúng ta dâng lên cho Ngài. Chúa Giêxu phán, khi chúng ta sẵn lòng thương xót người khác thì chúng ta cũng sẽ được thương xót. Hy vọng các em sẵn lòng trở thành người có lòng thương xót người khác, làm theo lời của Chúa Giêxu.

3. Ứng dụng.

a. Nhóm hành động thương xót.

Giáo viên cho các em chia nhóm và hoàn thành bài tập phần 3, vạch kế hoạch cho hành động thương xót như: Thăm viếng gia đình của một người goá bụa trong Hội thánh, dọn dẹp nhà cửa cho gia đình tàn tật … Sau đó, chọn ra một kế hoạch khả thi và sáng kiến nhất để thực hiện trong tuần nầy.

Giáo viên kết luận: Thương xót là hành động cần thiết phải thực hiện. Cũng như Chúa Giêxu trong ba năm rưỡi thi hành chức vụ trên đất, Ngài không ngừng dạy dỗ mọi người về Đức Chúa Trời, giảng dạy về Nước thiên đàng, chữa bệnh và đuổi quỷ… có thể thấy được lòng thương xót rất lớn của Ngài. Vì vậy, chúng ta là con cái của Chúa, là những người đi theo Ngài phải giống như Ngài, phải có lòng thương xót những người kém may mắn hơn mình. Nếu các em làm được như vậy, Chúa Giêxu phán rằng, các em là những người được phước, và sẽ được người khác thương xót lại.

b. Câu gốc và cầu nguyện: Cho các em cùng đọc câu gốc, sau đó kết thúc bằng lời cầu nguyện.

* Đáp án tham khảo bài tập phần 1.

* Chúng ta phải thương xót người khác, cũng như Cha trên trời thương xót chúng ta vậy.

- Mathiơ 5:7, Mathiơ 6:12,14-15, Mathiơ 18:32-35, Châm ngôn 21:13.

* Chúng ta phải thương xót một cách chân thành, không được giả dối và vì lợi ích của mình.

 - Mathiơ 9:13, Mathiơ 23:23. 

* Các ví dụ về sự thương xót.

- Mathiơ 15:32-39, Luca 7:11-15, Luca 10:25-37,

* Các gương về sự đón nhận người khác.

- Công vụ 9:26-28, Công vụ 15:36-41.

 

 

Bài 10.             NHỮNG KẺ CÓ LÒNG TRONG SẠCH.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 5:8; Thi thiên 15:1-2; 24:3-4; 51:6,10; Hêbơrơ 11:27; 12:14; I Giăng 3:1-3; Khải huyền 21:22-27, (tham khảo Luca 4:1-13; Giăng 14:30-31).

II. CÂU GỐC: Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!” (Mathiơ 5:8).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Những người có lòng trong sạch là những người ngay thẳng, không dối trá trước mặt Đức Chúa Trời và người khác.  

- Cảm nhận: Nếu tấm lòng chúng ta đầy dẫy tội lỗi và dối trá thì không thể đứng trước mặt Chúa được, vì ngài là Đấng thánh khiết.

- Hành động: Nhờ cậy huyết báu của Chúa Giêxu rửa sạch tội lỗi của em, học lời Chúa mỗi ngày và làm theo.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêxu dạy dỗ các môn đồ và Ngài nói rõ phẩm chất và phước lành nên có của công dân Nước trời, đó là “Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời”.

Lòng trong sạch là một loại “tình trạng của nội tâm”, là công đoạn chuẩn bị tâm linh trước khi thờ phượng Đức Chúa Trời của dân Ysơraên trong thời Cựu ước (Thi thiên 24:3-4), cũng là điều kiện trước nhất đẹp lòng Đức Chúa Trời. “Lòng trong sạch” nguyên văn tiếng Hylạp là “Katharoi”, chỉ về lương tâm không hổ thẹn, tấm lòng trong sạch, động cơ thuần khiết. Người có lòng trong sạch sẽ được thấy Đức Chúa Trời. Đây chính là những gì đã nói trong Hêbơrơ 12:14, Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời”. Vậy thì, làm thế nào chúng ta có được lòng trong sạch,   không giả dối?

Lòng trong sạch có nghĩa là ý tưởng hoàn toàn nên thánh, không có tội lỗi. Về phương diện tiêu cực, mọi tội ác, tà dâm, thù hận, báo thù, đố kỵ, kiêu ngạo, dối trá, ích kỷ, tham lam… đều là ô uế, không thánh khiết. Ý nghĩa của lòng trong sạch là phải hoàn toàn từ bỏ mọi ý tưởng ô uế không thánh khiết này. Về phương diện tích cực, ý nghĩa của lòng trong sạch là trong tâm linh chúng ta phải đầy dẫy những phẩm chất tốt như: Yêu thương, đức tin, lòng trung thành, thánh khiết, sự công bình, khiêm tốn, nhu mì, khoan dung, nhẫn nại… Từ đó có thể thấy, những kẻ có lòng trong sạch phải thánh khiết trong tư tưởng, hành động trong sạch không giả dối, xa rời tội lỗi (Thi thiên 15:1-2; 24:3-4; 51:6,10). 

Rõ ràng, tội lỗi là nguyên nhân khiến chúng ta không thể đến gần Đức Chúa Trời (Êsai 59:1-2). Người Pharisi lúc bấy giờ chỉ chú trọng nghi lễ và sự trong sạch bề ngoài, nhưng trong lòng lại đầy dẫy tội ác, cho nên, Chúa Giêxu nhấn mạnh tầm quan trọng của “lòng trong sạch”. Thật ra, các nghi lễ trong Cựu ước dạy dỗ dân Giuđa ý thức rằng, Đức Chúa Trời của họ là Đấng thánh, nên họ phải thánh sạch, và biệt riêng ra cho Ngài.

Dĩ nhiên, người có lòng trong sạch luôn cảm thấy bình an trong tâm hồn. Một người ở trong Đấng Christ được ban cho địa vị thánh ngay khi người đó tiếp nhận Chúa, nhưng điều đó không có nghĩa là người đó không hề phạm tội trong suốt cuộc đời của họ. Sự nên thánh là một quá trình dài tùy thuộc vào mức độ người đó gắn bó với lời của Chúa và sự tương giao với Ngài bao nhiêu, đồng thời không ngừng nhờ cậy Đức Thánh Linh, cho đến khi mặt đối mặt với Đức Chúa Trời. Khi trong lòng chúng ta thánh khiết thì có thể ở cùng Đức Chúa Trời, luôn thấy được sự vinh hiển và quyền năng của Ngài, nhờ đức tin thấy Đấng không thấy được (Hêbơrơ 11:27).

Đức Chúa Trời hiện ra trong sự hiện thấy cho các đầy tớ trung thành, có lòng trong sạch của Ngài. Êsai, Êxêchiên, Đaniên, sứ đồ Phaolô và Giăng… đều từng thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời tỏ ra trong sự hiện thấy. Môise còn nhiều lần trực tiếp thấy được sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Xuất Êdíptô ký 34:27-35; Dân số 12:1-8). Đức Chúa Trời trong một lần dạy dỗ Arôn và Miriam đã phán rằng:Hãy nghe rõ lời ta. Nếu trong các ngươi có một tiên tri nào, ta là Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng người trong sự hiện thấy, và nói với người trong cơn chiêm bao. Tôi tớ Môi-se ta không có như vậy, người thật trung tín trong cả nhà ta. Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một cách rõ ràng, không lời đố, và người thấy hình Đức Giê-hô-va. Vậy các ngươi không sợ mà nói hành kẻ tôi tớ ta, là Môi-se sao?” Qua đó có thể thấy, Môise trước mặt Đức Chúa Trời trung thành, thánh khiết, được đẹp lòng Ngài biết bao.

Chúa Giêxu cũng từng chịu sự thử thách nhưng Ngài không hề phạm tội (Hêbơrơ 4:15). Có người cho rằng, Chúa Giêxu là Đức Chúa Trời cho nên Ngài không thể phạm tội là phải lắm. Cách nhìn nhận hoàn toàn sai lầm. Tuy Chúa Giêxu hoàn toàn có bản tánh Đức Chúa Trời, nhưng Ngài cũng hoàn toàn là một con người như chúng ta. Giăng nói: Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật” (Giăng 1:14). Ngài đắc thắng sự cám dỗ để ban cho chúng ta sự đắc thắng trong danh Ngài.

Chúa Giêxu trong thân xác con người, và mang bản tánh nhân tánh, nên khi Chúa Giêxu còn ở thế gian, Ngài xem sự cầu nguyện là cực kỳ quan trọng. Trời chưa sáng, Ngài đã thức dậy đi đến nơi đồng vắng yên tĩnh để cầu nguyện. Sau một ngày làm việc, Ngài lại một  mình lên núi cầu nguyện. Mỗi khi có việc quan trọng cần quyết định, Ngài hết lòng cầu nguyện để tìm kiếm ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chúa Giêxu cũng cực kỳ xem trọng việc đọc Kinh Thánh và suy gẫm lời Đức Chúa Trời. Đối diện với sự cám dỗ của ma quỷ, Chúa Giêxu dung Kinh thánh để chống trả và đã đắc thắng.

Chúa Giêxu trước khi chịu thương khó đã phán cùng các môn đồ rằng: Các ngươi đã được trong sạch, vì lời ta đã bảo cho” (Giăng 15:3). Điều đó có thể thấy được Lời của Chúa có hiệu lực làm thánh khiết lòng con người. Chúa Giêxu trước khi rời xa các môn đồ, trong lời cầu thay đã cầu nguyện rằng: Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật” (Giăng 17:17). Rõ ràng, nếu chúng ta để cho lời của Chúa tự do hành động trong lòng, thì chúng ta sẽ có tấm lòng trong sạch.

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

1. Đừng nóng vội.

Giáo viên bảo các em tìm một chỗ ngồi thoải mái nhất, nhắm mắt lại 2 phút. Trong thời gian đó phải giữ yên lặng, không được mở mắt ra. Sau đó cho các em chia sẻ trong 2 phút này, trong đầu các em đã suy nghĩ gì, hoặc có hình ảnh nào hiện ra không? (Giáo viên có thể mở nhạc thánh ca không lời với âm lượng nhỏ, để các em được yên tĩnh và tập trung).

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Vào đề.

Trong cuộc sống bận rộn, thể xác và tâm linh chúng ta khó mà được yên tĩnh. Trong 2 phút ngắn ngủi ban nãy, các em có thời gian được yên tĩnh. Có thể trong một ngày, các em phải học tập, phụ giúp ba mẹ, giải trí cá nhân… khiến các em không có thời gian trò chuyện với Chúa. Tuy nhiên, trong bài giảng trên núi, Chúa Giêxu đã nêu ra tám phước lành thuộc linh. Bây giờ, chúng ta cùng xem phước thứ sáu nhé! Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!” (Mathiơ 5:8).

 2. Bài học.

a. Giả sử em đối diện với thử thách.

Giáo viên và các em cùng đọc Mathiơ 4:1-11, sau đó cho các em làm bài tập phần 1. Giáo viên tổng kết: Từ sự dạy dỗ của Chúa Giêxu và Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy được có tấm lòng trong sạch là cực kỳ quan trọng. Chúng ta nên nhờ cậy Đức Thánh Linh, sống đời sống thánh khiết, đẹp lòng Ngài. 

b. Lá thư gửi Chúa Giêxu.

Giáo viên có thể khích lệ các em viết ra sự yếu đuối trong lòng, nơi cần được làm tinh sạch và hoàn thành bài tập phần 2. Giáo viên tổng kết: Lòng trong sạch chính là chuyên tâm hướng về Đức Chúa Trời. Con cái Đức Chúa Trời phải có lòng trong sạch. Lòng con người một khi bị thế gian chiếm lấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời được. Ngược lại, người có lòng trong sạch chỉ hướng về Đức Chúa Trời, không cho phép những thứ thuộc về thế gian chiếm lấy, hoàn toàn đầu phục sự hướng dẫn của Chúa.

3. Ứng dụng.

a. Đời sống có Chúa làm chủ.

Khi Chúa Giêxu còn ở thế gian, Ngài rất xem trọng sự cầu nguyện với Đức Chúa Trời, đọc Kinh Thánh, suy gẫm và hết lòng đầu phục vâng theo lời Ngài. Đây chính là bí quyết gìn giữ tấm lòng trong sạch. Chúa Giêxu phán: Vì ta đã làm gương cho các ngươi, để các ngươi cũng làm như ta đã làm cho các ngươi” (Giăng 13:15).

Giáo viên hướng dẫn các em hoàn thành bài tập phần 3 “Bút ký tĩnh nguyện”, và khích lệ các em lấy hình thức này để tĩnh nguyện mỗi ngày. Giáo viên khích lệ các em, mỗi ngày ngoài việc thói quen cầu nguyện và đọc Kinh Thánh ra, còn phải có đời sống tĩnh nguyện đẹp lòng Chúa.

Giáo viên tổng kết: Viết bút ký tĩnh nguyện giống như viết nhật ký. Em chỉ việc viết ra cảm tưởng có được từ việc đọc Kinh Thánh mỗi ngày, hoặc những việc trong cuộc sống hằng ngày, bất luận vui hay buồn. Không bao lâu, em sẽ phát hiện được các việc làm kỳ diệu của Đức Chúa Trời trong đời sống của em. Nguyện chúng ta noi theo gương Chúa Giêxu, nhờ vào cầu nguyện, đọc Kinh Thánh và tĩnh nguyện, không ngừng nhờ cậy Đức Thánh Linh, và vâng phục Đức Chúa Trời. Như vậy, tuy mỗi ngày đối mặt với những thách thức khác nhau, nhưng các em vẫn giữ được lòng trong sạch, và dĩ nhiên em sẽ được phước vì Chúa Giêxu nói rằng: “Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời”.

2. Câu gốc và cầu nguyện: Cùng các em đọc câu gốc, sau đó kết thúc bằng lời cầu nguyện.

* Đáp án tham khảo bài tập phần 1.

Ma qủy nói với em...

Kinh Thánh chép rằng…

“Đông được điểm 10 môn toán, có gì to tát đâu? Bạn cũng được 9 điểm vậy! Cô giáo thật là thiên vị, toàn khen Đông thôi, không khen bạn!”

“Chớ tìm kiếm danh vọng giả dối mà trêu chọc nhau và ghen ghét nhau” (Galati 5:26).

“Xem phim nầy một chút có thể thư giãn tinh thần đó”.

“Người thành thật…bị phạt” (Châm ngôn 28:20)

“Hút thuốc oai lắm đó! Thử một điếu đi, không hại đâu!”

Mọi sự đều có phép làm nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều làm gương tốt” (I Côrinhtô 10:23).

“Ba mẹ Kiệt giàu quá, hay mua đồ chơi cho bạn ấy”

“Vì sự sống của người ta không phải cốt tại của cải mình dư dật đâu” (Luca 12:15).

 

 


Bài 11.    NHỮNG KẺ LÀM CHO NGƯỜI HÒA THUẬN.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 5:9; Êsai 52:7; II Côrinhtô 5:18-20; Thi thiên 34:14 (Tham khảo Êsai 9:6-7; Luca 19:1-10; Êphêsô 2:14-18).

II. CÂU GỐC: Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!” (Mathiơ 5:9).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em

- Biết: Những người làm cho người hòa thuận là những người đem người khác đến với Chúa và đến với nhau được gọi là con cái của Đức Chúa Trời.

- Cảm nhận: Một Cơ Đốc Nhân phải là người đem người khác trở lại với Đức Chúa Trời.

- Hành động: Em sẵn sàng trở thành người hòa giải, đem người khác đến với Chúa và với nhau.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

Chúng ta học câu Kinh thánh nầy trong bối cảnh lịch sử của dân Giuđa. Vào khoảng năm 586 TC, vương quốc phía Nam là Giuđa bị đế quốc Babylôn xâm chiếm, dân Giuđa bị thống trị dưới bàn tay thép của Babylôn trong vòng vài trăm năm. Sân khấu chính trị Trung Á (khu vực Palestine) không ngừng đổi thay nhân vật chính. Trước hết, Babylôn hùng mạnh bị đế quốc Phêrơsơ tiêu diệt. Sau đó, vua Gờréc là Alexander (322 TC) nổi lên tiêu diệt Phêrơsơ, nhưng Alexander chết sớm, nên đế quốc đó ở trong tình trạng bị tranh giành quyền lực của bốn vị tướng suốt trăm mấy năm triền miền. Dân Giuđa bị cai trị dưới vương triều của hai vị tướng quân (vương triều Bêtôlêmai và vương triều Seleucia).

Vì có một số kẻ thống trị sùng bái văn hóa Gờréc (bao gồm thờ phượng các vị thần Gờréc), nên họ ép buộc dân Giuđa tiếp nhận tôn giáo và văn hóa của họ. Nhưng vì dân Giuđa nhất quyết giữ tôn giáo độc thần của họ (chỉ thờ phượng một mình Đức Chúa Trời), nên bị tàn sát thảm khốc. Tức nước vỡ bờ, dân Giuđa phát động phong trào Maccabees (168 TC) để chống lại kẻ thù. Khoảng từ năm 143-136 TC, có thể nói dân Giuđa đã làm cuộc cách mạng thành công, có thể hưởng được sự tự do về chính trị và tôn giáo. Tuy nhiên, trong vòng dân Giuđa là có nội chiến, nội bộ vì tranh giành quyền lực mà chém giết lẫn nhau. Có vài kẻ cầu viện đến quân đội của đế quốc Lamã, có kẻ thì kích động những người Giuđa nào chống đối Gờréc cùng nhau lật đổ kẻ cầm quyền lúc đó. Bởi thế, giữa vòng dân Giuđa đã xuất hiện tình trạng đoạt quyền và tàn sát lẫn nhau, bị ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là thường dân và những người trung thành với Đức Chúa Trời. Vì thế, hơn bao giờ hết, họ khao khát Đức Chúa Trời thực hiện lời hứa của Ngài, là ban Đấng Mêsi đến.

Vào năm 76 TC, vua Giuđa là Jehoamiz qua đời, hai con trai của ông tranh giành ngôi vua. Con trai trưởng là Hymênê lên ngôi vua, như Athbuler (con trai thứ) lại không phục nên cũng tự xưng vương. Sau cùng, Hymênê cầu viện sự giúp đỡ của đế quốc Rôma lúc bấy giờ là tướng Pompey. Năm 63 TC, Pompey dẫn quân đội tiến vào Giêrusalem đánh bại đội quân của Athbuler, nhưng cái giá phải trả của Hymênê là mất nước.

Thời kỳ đầu, người Rôma thống trị dân Giuđa, quyền lực thực tế không chỉ do tướng Pompey nắm giữ, mà còn do Antipateir (người liên lạc giữa Rôma và Giuđa) thao túng nữa. Ông ta là người Êđôm, không phải huyết thống Giuđa. Trước khi qua đời, ông ta đã tiến cử con trai nối ngôi mình, và được người Rôma phê chuẩn. Vị vua nối ngôi đó chính là Hêrốt. Dân Giuđa rất thù ghét Hêrốt, cho rằng ông ta không phải là huyết thống Giuđa nên không có tư cách làm vua. Khoảng thời gian Hêrốt làm vua, ngoài việc áp bức dân Giuđa ra, vua còn giáng sưu thuế nặng nề trên người dân để lấy tiền xây dựng cung điện. Dân chúng căm phẫn nhưng không dám lên tiếng. Họ ngày đêm trông mong Đức Chúa Trời phục hưng đất nước, ban Đấng Mêsia đến để lãnh đạo họ chống lại đế quốc Lamã.

Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi, một số người Giuđa tổ chức khởi nghĩa để chống lại sự cai trị của đế quốc Lamã,  cho nên có rất nhiều cuộc xung đột đổ máu xảy ra. Nhà lịch sử học Giuđa là Joseph trong cuốn “Lịch sử Giuđa” do ông viết, đã ghi lại hành động của một nhóm người gọi là “Phe tiểu dao”. Họ luôn mang theo con dao nhỏ trong người, tìm cơ hội ám sát những kẻ thống trị Rôma, hoặc những người Giuđa thân chính quyền Rôma. Vì thế, có lẽ nhìn từ lịch sử của dân Giuđa, Chúa Giêxu phán: “Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời”. Có thể những thính giả của Chúa Giêxu khi nghe câu này, trong lòng tất nhớ lại lịch sử đau buồn của dân tộc, và sự đương nhiên họ khát khao có sự “bình an” (shalom) đến từ Đức Chúa Trời. Trong hoàn cảnh của họ, sự “hòa thuận” (hòa bình) rất quan trọng. Sống trong thời đại rối reng, sự sống của mỗi người không có gì đảm bảo, nên có được sự “bình an” là phước lành quý báu. Họ khát khao đất nước bình an, và dân tộc được Đức Chúa Trời cai trị chứ không phải dân ngoại bang thống trị.

Trong câu Kinh Thánh bài học hôm nay, “làm cho người hòa thuận” có thể dịch là “người tạo ra hòa bình” bao gồm 2 ý nghĩa: (1) Là rao giảng Phúc âm hoà bình, làm cho hòa thuận với Đức Chúa Trời (Êsai 52:7; II Côrinhtô 5:18), (2) Là xúc tiến sự hòa thuận giữa người với người (Thi thiên 34:14).

Chúa Giêxu chính là Đấng Mêsi, Chúa bình an (Êsai 9:6-7). Côlôse 1:20 chép: “Bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời”. Cho nên, hàm ý chủ yếu  của việc làm cho người hòa thuận, chính là Đức Chúa Trời qua Chúa Giêxu khiến con người được hòa thuận lại cùng Ngài. Chúa Giêxu giáng sinh, sự chết và sự phục sanh của Ngài đã thể hiện rõ, Đức Chúa Trời rao Lin lành về làm cho người hòa thuận. Ngày nay, tín đồ truyền giảng Phúc âm cho người khác cũng có thể gọi là người “làm cho người hòa thuận”.

Mặt khác, “làm cho người hòa thuận” là những người gây dựng sự hòa bình, ý nghĩa không phải chỉ về “người thích hòa thuận”, hoặc “người hòa thuận” không tạo ra phiền phức cho người khác. Tuy nhiên, “làm cho người hòa thuận” là trực tiếp tham dự vào công việc làm cho người hòa thuận. Ví dụ: Chúng ta cho phép một tình huống đe dọa hay nguy hiểm tiếp tục phát triển, lấy cớ là vì chúng ta muốn hòa bình nên không áp dụng hành động nào. Như vậy, không phải chúng ta đang xây dựng sự hoà bình mà làm cho sự việc tồi tệ hơn. Cho nên, “làm cho người hòa thuận” không phải là trốn tránh hậu quả có thể xảy ra, hoặc đơn thuần chỉ vì không muốn ồn ào nên làm người đứng ngoài cuộc.

Trong Tân ước, Phaolô khuyên tín đồ hãy hết sức hòa thuận với mọi người. Có khi chúng ta vì theo đuổi sự hòa thuận có thể sẽ bị thiệt thòi, thậm chí phải trả giá. Ví dụ: Chúa Giêxu đã hy sinh chính mạng sống của Ngài, để chúng ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời. Tuy các em còn nhỏ, nhưng các em có thể thực hiện điều ầy ở nơi mình sinh sống, hoặc ở trường học. Một người làm cho người hòa thuận trước hết phải hòa thuận với Đức Chúa Trời, để sự bình an của Đấng Christ làm chủ trong lòng, nhờ cậy ân điển và sự khôn ngoan của Chúa, vì sự hòa bình mà cố gắng hết mình. Đức Chúa Trời chủ động sai Con Một của Ngài đến thế gian để con người hoà thuận lại cùng Đức Chúa Trời, tỏ rõ Ngài là Đấng theo đuổi và gây dựng sự hòa bình. Chúa Giêxu phán rằng, nếu chúng ta làm cho người hoà thuận, thì chúng ta sẽ được phước, sẽ được gọi là “Con Đức Chúa Trời”, có nghĩa là chúng ta đã làm công việc của Đức Chúa Trời, gia nhập vào gia đình của Ngài, và phản ánh bản tánh của Ngài.

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

Trước hết, cho các em đọc câu Kinh Thánh bài này, sau đó hướng dẫn các em làm bài tập phần 1 “Hòa thuận rất quan trọng”. Giáo viên tham khảo phần “Giáo viên suy gẫm” và giảng giải một cách tóm tắt về dễ hiểu về bối cảnh lịch sử và xã hội của dân Giuđa thời bấy giờ. Sau đó mới cho các em thực hiện phần bài tập. Mục đích của hoạt động nầy là giúp các em nhận biết cảm nhận của những người đang nghe Chúa Giêxu dạy dỗ trên núi là thế nào. Tiếp đến, giải thích cho các em hiểu, người “làm cho người hòa thuận” trước tiên chính là Đức Chúa Trời. Chúa Giêxu đến thế gian, chịu đóng đinh trên thập tự để con người hòa thuận với Đức Chúa Trời. Bây giờ, các em cũng có thể thông qua việc chia sẻ Tin Lành “làm cho người hoà thuận”, gây dựng sự hòa bình giữa người với người, và trở thành người được phước.

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Em là Con của Chúa.

Giáo viên lấy một số hình ảnh cá nhân, bao gồm của bản thân, ba mẹ, và hỏi các em vì sao mình được cho là con của ba mẹ? (Đương nhiên, các em sẽ trả lời là vì huyết thống, ruột thịt…) Hỏi các em nếu ngoại trừ các nguyên nhân vừa đề cập ra, còn có nguyên nhân nào nữa không? Mục đích hoạt động nầy là khơi dậy sự hứng thú trong học tập. Các em sẽ suy nghĩ vì sao những người làm cho người hòa thuận, sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời?

2. Tránh xung đột là hòa thuận?

Làm cho người hòa thuận, không phải là khi chúng ta nhìn thấy việc xảy ra có nguy cơ xung đột, thì đứng ngoài cuộc nhìn. Thái độ hoặc hành động như vậy chẳng phải là sự dạy dỗ và tinh thần mà Chúa Giêxu muốn, vì “làm cho người hòa thuận” có thể nói là “người gây dựng hòa bình” là người chủ động đi tìm cơ hội thúc đẩy sự hòa bình giữa Đức Chúa Trời với con người, và giữa người với người. Sau đó, cho các em hoàn thành bài tập phần 2, khuyến khích  các em suy nghĩ xem có gì ngăn trở sự phát triển hòa bình không? Nếu muốn thực hiện sự hòa bình, cách nào là hành động mang tính tiêu cực, hành động nào mang tính tích cực?

3. Ứng dụng.

a. Làm sứ giả hòa thuận.

Cho các em hoàn thành bài tập phần 3 “Làm  sứ giả hòa thuận”. Mục đích là cho các em nhận biết một số lãnh đạo Cơ đốc hoặc đoàn thể Cơ đốc, làm thế nào cố gắng thực hiện “làm cho người hòa thuận”? (Rao giảng Phúc âm hoặc thúc đẩy sự hòa bình giữa người với người), và khích lệ các em vạch kế hoạch hành động làm cho người hòa thuận (có thể chia nhóm tiến hành, hoặc do giáo viên dẫn các em đi thăm viếng, làm chứng…)

b. Câu gốc và cầu nguyện: Cho các em cùng đọc câu gốc, và cầu nguyện kết thúc.

* Đáp án tham khảo.

- Bài tập phần 1.

- Về mặt chính trị: Hòa thuận rất quan trọng đối với dân Giuđa lúc bấy giờ, vì người thống trị Giuđa bị thay đổi liên tục, và chính phủ Rôma cũng xảy ra việc tranh giành quyền lực. Vì thế dân sự bất ổn, cuộc sống không bình an.

- Hòa thuận rất quan trọng đối với tín ngưỡng lúc bấy giờ, vì “hòa thuận” (hòa bình), hàm ý là thân xác và tâm linh bình an, quan hệ giữa Đức Chúa Trời và người hòa thuận. Vì thế, kẻ làm cho người hòa thuận là điều họ khát khao. Ngoài ra, dân Giuđa sau khi bị mất nước đã ngày đêm mong đợi Đấng Mêsia đến. Họ hy vọng Ngài có thể phá đổ ách thống trị của đế quốc Lamã, phục hưng nước Ysơraên. Ngài được gọi là Chúa hòa bình, lấy hòa bình để thống trị thế giới.

- Bài tập phần 2.

1. Làm cho người hòa thuận sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời, là vì khi tín đồ làm công việc đã làm của Đức Chúa Trời, gia nhập hàng ngũ của Ngài (truyền Phúc âm và gây dựng hòa bình), chúng ta thật sự đã phản ánh bản tánh của Đức Chúa Trời (hoà bình) giống Ngài như con giống cha vậy.


Bài 12.               NHỮNG KẺ CHỊU BẮT BỚ VÌ SỰ HÒA BÌNH.

 

I. KINH THÁNH: Mathiơ 5:10-12; II Timôthê 3:11-12; Giacơ 1:2-3; Philíp 1:12-14; Công vụ 8:4-6; I Phierơ 1:7; 4:12-14; Khải huyền 24:4,6.  

II. CÂU GỐC: “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy” (Mathiơ 5:10).

III. MỤC ĐÍCH: Giúp các em      

- Biết: Những người chịu bắt bớ vì sự công bình là những người chịu sự bắt bớ vì cớ tỏ ra công bình, vâng theo Chúa Giêxu, tuân theo mọi mệnh lệnh Ngài.

- Cảm nhận:

- Hành động: Sẵn lòng học vì cớ sự công bình và vì Chúa mà không sợ bị bắt bớ.

IV. GIÁO VIÊN SUY GẪM.

1. Ôn lại 7 phước lành.

Chúng ta có thể thấy được từ phước lành thứ nhất đến thứ tám  là một bức tranh lớn về tuần tự tiến dần của hành trình của một người theo Chúa.

- Đầu tiên, chúng ta cần phải thừa nhận tâm linh mình nghèo nàn, cần Đức Chúa Trời. Người thật lòng đi theo Chúa Giêxu nhận biết bản thân không trọn vẹn, từ đó suy ngẫm sự toàn vẹn của Đức Chúa Trời và tiếp nhận nguồn nhiên liệu vô tận từ Ngài.

- Thứ 2, chúng ta cần phải đau buồn cho tội lỗi của bản thân, thừa nhận bản thân không sống theo ý muốn của Đức Chúa Trời, cũng đau buồn cho tội lỗi của thế gian, hiểu rõ các việc làm của con người khiến Đức Chúa Trời đau buồn.

- Thứ 3, với tấm lòng cung kính khiêm nhường, chúng ta dâng chính mình làm đầy tớ cho Đức Chúa Trời, hoàn toàn dấn thân cho Ngài.

- Thứ 4, chúng ta sống trong ân điển của Đức Chúa Trời với thái độ như đứa trẻ đói khát, nằm trong lòng mẹ uống sữa, cũng giống như người du lịch trên sa mạc, khao khát gặp được nguồn nước vậy.

- Thứ 5 và 6, người theo Chúa sống giữa thế gian, hoà nhập với thế gian chứ không phải tách biệt khỏi thế gian, lấy đời sống được biến đổi để bày tỏ niềm tin của mình, đồng thời thực hành sự tin kính bằng thái độ thành thật không dối trá.

- Thứ 7, tâm linh chúng ta ngày càng trưởng thành, thì chúng ta càng trở nên giống Chúa, trở thành người gây dựng hòa bình, lấy thái độ tích cực tiến hành, chứ không phải chỉ là duy trì.

 2. Phước lành thứ 8.

Phước lành thứ 8 dựa trên các phước vừa kể trên, “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy” (Mathiơ 5:10). Nếu diễn giải một chút, chúng ta sẽ hiểu Chúa Giêxu muốn nói như thế nầy: “À, còn một điều nữa, nếu  các con có được những điều ta vừa nói trên trong đời sống hàng ngày, thì các con nhất định sẽ gặp phải sự bắt bớ. Bởi vì, đa số người ta không hiểu những việc các con làm, cho rằng các con làm tổn hại đến lợi ích của họ nên phê phán, công kích, thậm chí bắt bớ các con”.

- “Chịu bắt bớ vì sự công bình” là vì thực hiện sự công bình của Đức Chúa Trời mà bị thù ghét, bức hại. Nhưng, Chúa có một lời hứa dành cho những người chịu khổ vì danh Ngài, đó là “Nước thiên đàng là của những kẻ ấy”. Tín đồ chịu bắt bớ vì sự công bình vì họ là công dân Nước thiên đàng.

Còn câu 11-12 Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước”, là sự miêu tả kéo dài của câu 10. Chúa Giêxu nói rõ các môn đồ sẽ chịu sự bắt bớ, cũng như các tiên tri vì Đức Chúa Trời mà chịu bắt bớ.

Nếu chúng ta nhìn bằng con mắt xác thịt về “sự bắt bớ”, thì chúng ta sẽ thấy việc chịu khổ vì danh Chúa không có hy vọng gì cả. Nhưng nếu chúng ta nhìn từ góc độ thuộc linh, thì chúng ta sẽ nghe Chúa Giêxu phán: “Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy” (câu 12)

Có lẽ bạn sẽ hỏi, tại sao phước này lại chiếm tới 3 câu trong khi các phước khác thì chỉ dùng 1 câu? Đáp án căn bản và đơn giản nhất, có thể là Chúa Giêxu rất muốn các tín đồ đừng bỏ qua phước lành này. Ngài không che đậy sự thật, những người đi theo Ngài không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi hoặc sự dễ dàng, nhưng sẽ gặp khó khăn và bắt bớ. Khi anh (chị) vì vâng theo lời Chúa mà chịu sự bắt bớ, hãy kiên quyết giữ vững niềm tin của mình đối với Đức Chúa Trời. Ngài không bao giờ bỏ rơi những ai thuộc về Ngài, bởi vì “nước thiên đàng là của những kẻ ấy”. Trên thực tế, Hội Thánh đầu tiên chịu sự bắt bớ dữ dội vì danh Chúa. Êtiên vì cớ làm chứng về  Chúa Giêxu mà bị đá ném chết. Hội thánh vào năm 64 SC, đã bị vua Rôma là Nero vu khống đốt cháy thành Rôma, nên mở một cuộc bắt bớ rộng khắp, kích động dân chúng căm nghét Cơ đốc nhân. Các tín đồ vì thế mà bị bắt bớ, tra tấn và giết chết một cách dã man. Còn nữa, vị vua kế tiếp (Aurelius) ra lệnh sẽ tặng tài sản của Cơ đốc nhân cho những ai tố giác họ.

Trong xã hội ngày nay, chúng ta là những người đi theo Chúa, đời sống phải như ngọn đèn sáng trong sương mù, chiếu sáng con đường phía trước, trở thành sự dẫn đưa người khác đến sự sáng. Đương nhiên, sẽ không dễ dàng cho những ai sống theo ý Chúa, vì vậy phải chuẩn bị tinh thần đối diện với sự bắt bớ. Sức ảnh hưởng lớn nhất của các em thiếu nhi là từ bạn học. Vì thế, khi các em tin Chúa sẽ gặp sự châm chọc, bài xích từ bạn học, nhưng Chúa Giêxu khích lệ chúng ta, “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy” (Mathiơ 5:10).

V. PHẦN ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ DẠY.

A. SINH HOẠT ĐẦU GIỜ.

* Lập trường của em.

Giáo viên cho các em làm bài tập phần 1, chia hai nhóm để thực hiện. Cho các em báo cáo nguyên nhân sự việc, nội dung sự việc, và kết quả. Nhóm một khi báo cáo phải giữ quan niệm của con người, nhóm hai thì giữ lập trường của Kinh Thánh.

* Chuẩn bị: Trang tư liệu 3.

B. BÀI HỌC KINH THÁNH.

1. Tất sẽ gặp bắt bớ.

Sau khi các nhóm báo cáo xong, giáo viên so sánh tổng quát về quan niệm của hai nhóm và đưa ra ví dụ sau đây để minh hoạ. Đời sống của những người tin Chúa và không tin Chúa cũng giống như hình ảnh hai người đang xây hai căn nhà nhiều tầng. Nhà của người tin Chúa chọn cách xây thẳng đứng, còn nhà của người không tin Chúa thì chọn cách xây nghiêng. Nếu hai căn nhà này xây sát nhau thì em nghĩ sẽ như thế nào? Nhà của người tin Chúa sẽ bị thiệt hại gì? (Cho các em nêu ra ý kiến của mình).

Trên thực tế, chúng ta nhiều lúc vì làm theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh mà gặp nhiều khó khăn, thậm chí bị bắt bớ từ phía bên ngoài. Thật ra, cũng không có gì ngạc nhiên nếu chúng ta ở trong tình trạng nầy, vì Chúa Giêxu đã nói trước điều đó. Bây giờ các em Mathiơ 5:10-12 và đọc những câu Kinh thánh nầy. Sau đó, giáo viên hướng dẫn các em làm bài tập phần 2.

2. Chịu khổ vì Chúa.

Giáo viên kể câu chuyện sau đây để các em có thể hiểu và cảm nhận được những người hầu việc Chúa phải chịu khổ, bị bắt bớ, thậm chí bị giết chết. Nhưng Chúa Giêxu phán rằng, những người như vậy sẽ được phước.

Mục sư người Đức Dietrich Bonnoeffer (1905-1945) vì kiên quyết phản đối chính sách tàn bạo của Hitler mà tử đạo. Khi còn sống, ông ra sức khuyên Cơ đốc nhân hai điều: (1) Phải theo gương Chúa Giêxu, chịu khổ vì danh Ngài. (2) Không sống vì sự ham muốn của bản thân, mà hoàn toàn trao phó cuộc sống mình cho Chúa. 

Khi Hitler thống trị nước Đức, ông gia nhập đội ngũ những người chống phát xít. Tuy bạn của ông lén đưa ông sang Mỹ, nhưng không bao lâu ông lại trở về và nói: “Sự kêu gọi của tôi là ở cùng đồng bào tôi”. Năm 1943, ông bị bắt. Cảm động bởi lời nói của ông, người cai ngục âm thầm sắp xếp cho ông truyền giảng Tin lành cho các tù nhân đang ở trong tù. Chúa nhật ngày 8 tháng 4 năm 1945, như thường lệ, ông hướng dẫn lễ thờ phượng cho các tù nhân, và sứ điệp mà ông chia sẻ hôm đó là: “Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh” (Êsai 53:5). Ông cầu nguyện chúc phước chưa xong thì có hai cảnh sát mặc thường phục đi vào và nói: “Bonnoeffer, hãy đi theo chúng tôi”. Mọi người chào tạm biệt ông, ông nói với một tù nhân đứng cạnh rằng: “Đây là sự kết thúc của một sự kiện, nhưng đối với tôi đó lại là sự bắt đầu của sự sống”. Ngày hôm sau, ông bị xử tử hình khi mới 41 tuổi, nhưng cuốn sách ông viết lại khiến cho rất nhiều Hội Thánh và tín đồ được khích lệ, nhất là quyển “Đi theo Đấng Christ”. Giáo viên có thể đọc đoạn văn sau đây cho các em vừa nghe vừa suy nghĩ.

“Con gọi ta là “Chúa” nhưng không vâng lời ta. Con gọi ta là “sự sáng” nhưng lại không thấy ta. Con gọi ta là “con đường” nhưng lại không bước đi trên đó. Con gọi ta là “sự sống” nhưng lại không khát khao ta. Con gọi ta là “Đấng khôn ngoan” nhưng lại không đi theo ta. Con gọi ta là “hoàn mỹ” nhưng lại không yêu ta. Con gọi ta là “giàu có” nhưng lại không cầu xin ta. Con gọi ta là “nhân từ” nhưng lại không nhờ cậy ta. Con gọi ta là “tôn quý” nhưng lại không phụng sự ta. Con gọi ta là “toàn năng” nhưng lại không tôn kính ta. Con gọi ta là “công bình” nhưng lại không kính sợ ta.

3. Ứng dụng.

a. Phước cho ai chịu bắt bớ vì sự công bình.

Giáo viên cho các em làm bài tập phần 3, tiếp tục tìm hiểu xem khi chúng ta gặp phải sự bắt bớ, Chúa Giêxu khích lệ chúng ta như thế nào? Suy nghĩ xem chúng ta đối diện với sự bắt bớ như thế nào?

b. Ôn lại tám phước lành.

Sau cùng, cho các em làm bài tập phần 4, mục đích của hoạt động nầy là ôn lại trọng điểm của tám phước lành và ý nghĩa của chúng đối với chúng ta ngày hôm nay.

c. Câu gốc và cầu nguyện: Cùng các em đọc câu gốc và cầu nguyện kết thúc.

* Đáp án tham khảo

* Bài tập phần 3.

Nguyên tắc Kinh Thánh:

- Chịu sự bắt bớ là vì làm chứng cho Chúa.

- Chúa Giêxu phán, khi chúng ta chịu bắt bớ vì sự công bình là chúng ta có phước.

- Chúng ta sẽ có phần thưởng lớn từ trên trời.

- Những ai vì sự công bình tất sẽ chịu bắt bớ, Chúa Giêxu và các tiên tri cũng không ngoại lệ.

* Bài tập phần 4.

Những người…

Phước lành…

Ý nghĩa

1. Người có lòng khó khăn

Nước thiên đàng là của những người đó

Cho các em tự do chia sẻ

2. Người than khóc

Sẽ được yên ủi

Như trên

3. Người nhu mì

Sẽ hưởng được đất

Như trên

4. Người đói khát sự công bình

Sẽ được no đủ

Như trên

5. Người hay thương xót

Sẽ được thương xót

Như trên

6. Người có lòng trong sạch

Sẽ thấy Đức Chúa Trời

Như trên

7. Người làm cho người hòa thuận

Sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời

Như trên

8. Người chịu bắt bớ vì sự công bình

Nước thiên đàng là của những người đó

Như trên

 


Trang tư liệu 1.

BẢNG ĐIỂM TRUNG BÌNH ĐI VÀO CỬA HẸP.

5 điểm:

Đang trưởng thành.

 

 

 

 

4 điểm: Đang vững bước.

 

 

 

 

3 điểm:

Đang tiến triển.

 

 

 

 

2 điểm: Còn non nớt.

 

 

 

 

 

1 điểm: Mới mẽ

 

 

 

 

0 điểm: Chưa xuất phát.

 

 

 

 

Hạng mục

Thái độ tín ngưỡng

Hành vi tín ngưỡng

Ý nghĩa tín ngưỡng

Quan hệ tín ngưỡng

 


Trang tư liệu 2.

Giáo viên dùng giấy bìa cứng màu trắng, tham khảo hình dưới đây cắt ra 2 hình tròn lớn bằng đĩa CD. Lấy bút màu viết ra các mẫu chữ khác màu (xem bảng mẫu sau): “bề mặt” cắt ra theo đường gạch nối, nhưng không cắt đứt ra; lấy “lời hứa” nên có đối xứng với “8 phước lành” và lấy phía trên của “bề trái”, cùng với vòng tròn nhỏ ở phía sau của “bề mặt” dán lại với nhau (vị trí cắt ra ở xung quanh có thể dùng cây kẹp khác màu sắc kẹp lại hoặc bấm 1 lỗ nhỏ ở phía trên của mỗi 1 tấm, dùng dây nơ cột lại, khi giảng mỗi 1 bài thì lần lượt mở ra).

* Mẫu chữ:

Bề trái (phía trên)

Nước thiên đàng

Sẽ được yên ủi

Sẽ hưởng được đất

Sẽ được no đủ

Sẽ được thương xót

Sẽ thấy Đức Chúa Trời 

Sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời

Nước thiên đàng

Bề trái (phía sau)

8 phước lành (Mathiơ 5:3-10)

 

Bề mặt (phía trên)

Những kẻ có lòng khó khăn

Những kẻ than khóc

Những kẻ nhu mì

Những kẻ đói khát sự công bình

Những kẻ hay thương xót

Những kẻ có lòng trong sạch

Những kẻ làm cho người hòa thuận

Những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình

Bề mặt (phía sau)

Đoạn 5:3

5:4

5:5

5:6

5:7

5:8

5:9

5:10

Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
4 Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!
5 Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!
6 Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!
7 Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!
8 Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!
9 Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!
10 Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!

Trang tư liệu 3.

* Vấn đề thảo luận: Thờ cúng ông bà tổ tiên. 

1. Quan điểm ủng hộ:

- Thờ cúng ông bà tổ tiên, những người đã khuất là thể hiện sự hiếu kính cha mẹ và cũng là nét đẹp văn hóa của người Việt Nam.

- Ông bà cha mẹ là những người đã sinh thành và nuôi dưỡng ta, vì vậy ta phải biết ơn họ dù họ đã qua đời.

- Họ đang ở thế giới bên kia, cũng cần những người thân còn sống hương khói để không cảm thấy bị cô đơn.

- Người chết vẫn có thể quay trở về để thăm người thân của họ.

* Quan điểm không ủng hộ.

- Hiếu kính ông bà cha mẹ là nét đẹp văn hóa của người Việt nam và cũng là điều mà Kinh thánh đã dạy.

- Tuy nhiên, chúng ta có thể bày tỏ lòng biết ơn đối với ông cha mẹ khi họ còn sống.

- Khi người thân của chúng ta đã qua đời thì họ không thể quay trở về vì linh hồn của họ ở một nơi để chờ ngày Đức Chúa Trời phán xét.

Xuất Êdíptô ký 20:12: “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giêhôva Đức Chúa Trời ban cho”.

Luca 16:19-31. 




 

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 22 Tháng 9 2011 01:24
 

You are here  : Home Các Ban Ngành Thiếu Nhi Bài Học KInh Thánh Dành Cho Thiếu Nhi Quý 3(Giáo Viên)